Tư vấn Luật hôn nhân và gia đình: Khi ly hôn tài sản nào không phải chia theo quy định pháp luật?


Tư vấn Luật hôn nhân và gia đình: Khi ly hôn tài sản nào không phải chia theo quy định pháp luật?

Thực tế hiện nay, các vụ án ly hôn ngày càng trở nên phổ biến. Có rất nhiều khách hàng tìm đến Luật Thiên Nam xin tư vấn với câu hỏi: Khi ly hôn, có phải tất cả những tài sản tạo lập được đều phải chia đôi cho vợ và chồng hay không?

Qua bài viết này, đội ngũ chuyên viên pháp lý Luật Thiên Nam sẽ giải đáp nhanh thắc mắc đó của Quý khách hàng!

Căn cứ quy định tại Điều 35, Điều 44 Luật HNGĐ 2014, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng sẽ do vợ chồng cùng thỏa thuận hoặc sẽ được phân chia theo quyết định/bản án của tòa án.

Nguyên tắc phân chia, cách thức phân chia được thực hiện theo quy định tại Điều 59 Luật HNGĐ. Ngược lại, tài sản riêng của vợ hoặc chồng là tài sản do vợ hoặc chồng toàn quyền định đoạt.
Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản được xác định theo Điều 43 Luật HNGĐ 2014, Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, gồm có:
– Tài sản riêng mà vợ chồng có được trước khi kết hôn;
– Tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
– Tài sản mà vợ hoặc chồng được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo quyết định/bản án đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo Điều 38, Điều 39, Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình;
– Tài sản được coi là tài sản thiết yếu của vợ hoặc chồng;
– Quyền tài sản đối với đối tướng ở hữu trí tuệ theo pháp luật sở hữu trí tuệ của vợ hoặc chồng;
– Tài sản mà vợ hoặc chồng có được thông qua bản án, quyết định của Tòa án hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
– Các khoản trợ cấp hoặc ưu đãi mà vợ chồng có được /nhận được theo quy định của pháp luật về người có công với cách mạng hoặc các quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ hoặc chồng;
– Tài sản mà được hình thành từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng (ví dụ bán căn nhà là tài sản riêng của vợ hoặc chồng để mua ô tô hoặc mua căn nhà khác thì ô tô hoặc căn nhà khác cũng là tài sản riêng của vợ, chồng);
– Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng nhưng đã được phân chia riêng cho vợ hoặc chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật HNGĐ.
Tài sản nào không phải chia khi ly hôn được dựa trên việc xác định đó là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ, chồng. Vì vậy, nếu đây là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì không phải phân chia khi ly hôn.

Trên đây là toàn bộ nội dung giải đáp vắn tắt cho câu hỏi: "Khi ly hôn tài sản nào không phải chia theo quy định pháp luật?". Trường hợp Quý khách hàng cần sự hỗ trợ từ Luật sư, vui lòng liên hệ qua sđt hotline: 0973 486 305/1900 633 203.

#luatsu #tuvan #tuvanphapluatmienphi #lyhon #tranhchap #luatsuhinhsu #toaan #tranhchapdatdai #tranhchaplaodong #thuake #hopdong #laodong #vieclam
——————————————–
CÔNG TY LUẬT THIÊN NAM
Hồ sơ năng lực: https://docs.google.com/…/1plYgrkTmYepFhhf…/edit
☎ Hotline: 1900.633.203
? Email: tuvanluatthiennam@gmail.com
Website: https://luatthiennam.com/
Youtube: https://www.youtube.com/channel/UCTO-J1Ada3EFI-U0Xn_Snlw
Tiktok: https://www.tiktok.com/@luatthiennam?lang=vi-VN
? Địa chỉ: Số 5, ngõ 165/2 phố Thái Hà, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
? Chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh: Số 450 đường Ba tháng Hai, phường 12, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
#luatthiennam #tuvanphapluatmienphi

Các nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Các nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Việc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Do đó, việc xây dựng các nguyên tắc và tuân thủ theo trong quá trình chia tài sản, giải quyết tranh chấp là việc làm cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Hiện nay, các nguyên tắc được quy định tại Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành gồm:

1. Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng

Nếu chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật HN&GĐ năm 2014

Để cụ thể hóa hơn nguyên tắc này, Khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định:

1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đìnhđể chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

2. Nguyên tắc chia đôi nhà ở là tài sản chung của vợ chồng nhưng có tính đến các yếu tố khác

Khi nhà ở là tài sản chung của vợ chồng, nguyên tắc chia đôi được áp dụng. Khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 và Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định: Nếu Tòa án áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

Thứ nhất, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng

Thứ hai, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung

Thứ ba, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập

Thứ tư, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

3. Nguyên tắc chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị tài sản của nhà ở

4. Nguyên tắc tài sản riêng vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó

Khi nhà ở được vợ chồng thỏa thuận đứng tên trên giấy chứng nhận là tài sản riêng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 [1] thì người đứng tên đó được toàn quyền khai thác, sử dụng, định đoạt nhà ở. Vợ hoặc chồng có nhà ở riêng có quyền khai thác, sử dụng để hưởng lợi theo mục đích sử dụng đã được xác định, có toàn quyền định đoạt tài sản đó trong các giao dịch dân sự mà không cần thiết phải có sự đồng ý của người còn lại.

5. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

6. Nguyên tắc đảm bảo quyền có chỗ ở cho đương sự sau khi ly hôn

Trên đây là toàn bộ quy định của pháp luật về các nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất!

[1] Khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013

Pháp luật quy định như thế nào về trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn?

 Pháp luật quy định như thế nào về trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn?

Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều cặp đôi chung sống với nhau như vợ chồng nhưng lại không tiến hành các thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật HN&GĐ năm 2014.

Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2014 nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Trên đây là quy định của pháp luật hiện hành về trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất!

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì? Chủ thể nào có quyền yêu cầu?

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì? Chủ thể nào có quyền yêu cầu?

Hiện nay, các kiến thức pháp luật về hôn nhân gia đình đã được phổ biến rộng rãi tới nhân dân. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, do sự thiếu hiểu biết nên vẫn tồn tại thực trạng kết hôn trái pháp luật. Vậy thì hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì? Chủ thể nào có quyền yêu cầu? Luật Thiên Nam sẽ giúp các bạn giải đáp những thắc mắc đó ngay bây giờ.

Căn cứ theo Khoản 6, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ. Các điều kiện này gồm có: Độ tuổi (Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên), Ý chí (Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, hai bên không bị mất năng lực hành vi dân sự) và việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp bị cấm theo quy định tại các điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều 5 của Luật HN&GĐ.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc Tòa án tuyên bố việc kết hôn là trái pháp luật và ra quyết định buộc những người kết hôn phải chấm dứt quan hệ hôn nhân này.

Điều 10 Luật HN&GĐ quy định người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:

– Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn

– Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật

– Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

– Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

– Hội liên hiệp phụ nữ

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d Khoản 2 Điều 10 Luật HN&GĐ yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trên đây là toàn bộ những thông tin để giải đáp cho câu hỏi trên. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất!

Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?

Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?

Theo quy định tại Điều 68 BLDS năm 2015, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Vậy thì khi nào Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu một bên mất tích?

Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 định nghĩa: “ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 68 BLDS năm 2015 cũng quy định: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Do đó, trong trường hợp người vợ hoặc chồng mất tích, bên còn lại muốn ly hôn thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Trên đây là toàn bộ những giải đáp của Luật Thiên Nam cho câu hỏi: “Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?”. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn chính xác, nhanh chóng và hiệu quả nhất!

Quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng  hoặc theo quy định của pháp luật.

  1. Thời điểm có hiệu lực của viêc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

– Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản

– Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực tự thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định

– Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

– Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

  1. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định tại Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP

– Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

– Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.

– Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

  1. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

– Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

– Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác

– Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

–  Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

  1. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Theo quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

– Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trên đây là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được lời tư vấn nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất!

Những điều cần biết khi nhận con nuôi theo pháp luật Việt Nam

Điều kiện nhận nuôi con nuôi trong nước theo Luật Nuôi con nuôi

1. Điều kiện đối với người được nhận nuôi

Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi được quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, cụ thể:

Về độ tuổi, người được nhận làm con nuôi là “trẻ em dưới 16 tuổi”. Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có quy định trường hợp ngoại lệ là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được cho làm con nuôi nếu thuộc một trong các trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

Bên cạnh đó, một người chỉ được nhận làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Vợ chồng nhận nuôi con nuôi phải có hôn nhân hợp pháp, được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn thì không được nhận con nuôi. Luật cũng không cho phép một người được nhận làm con nuôi của nhiều gia đình hoặc nhiều người độc thân.

Khoản 8, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có quy định: “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”. Luật Nuôi con nuôi đã có quy định cấm các hành vi sau trong việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 13 gồm:“Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, bắt cóc mua bán trẻ em; Gỉa mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi; Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của nhà nước”

2. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi trong nước

Theo quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì người nhận con nuôi phải có các điều kiện: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt.

Thứ nhất, người nhận nuôi con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.  Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên, tức là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi do Tòa án ra quyết định tuyên bố.

Thứ hai, độ tuổi của người nhận nuôi phải hơn con từ 20 tuổi trở lên

Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác nhận cháu làm con nuôi theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 thì không áp dụng quy định hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

Thứ ba, người nhận nuôi phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi

Trường hợp cha dượng, mẹ kế, cô, dì, chú, bác ruột,… nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện về kinh tế, sức khỏe.

Thứ tư, người nhận nuôi phải có tư cách đạo đức tốt

Điều kiện này có ý nghĩa rất lớn bởi vì tư cách đạo đức của cha mẹ nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định cấm ông bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh chị em ruột nhận nhau làm con nuôi tránh sự đảo lộn thứ tự, thứ bậc trong gia đình.

3. Điều kiện về ý chí của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi

3.1. Ý chí của người nhận nuôi

Để bày tỏ nguyện vọng của mình, người nhận nuôi phải có đơn xin nhận con nuôi kèm các giấy tờ chứng minh đủ điều kiện gửi cho cơ quan có thẩm quyền. Trong đơn xin nhận nuôi, người nhận nuôi phải cung cấp đầy đủ những thông tin cá nhân cơ bản, lý do nhận nuôi con nuôi và cam kết thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em như con đẻ của mình cũng như mọi nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo quy định của pháp luật. Trường hợp hai vợ chồng cùng nhận con nuôi thì phải đồng thời thể hiện ý chí của mình tại đơn xin nhận con nuôi. Ngoài ra, nếu có nguyện vọng nhận con nuôi, công dân Việt Nam có thể đăng ký tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú

3.2. Ý chí của cha mẹ hoặc người giám hộ của người được nhận làm con nuôi

Tại Khoản 1, Điều 21 Luật Nuôi con nuôi quy định: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của trẻ em đó”

Quy định này nhằm tăng tính công khai cho việc nhận con nuôi, góp phần giảm thiểu hệ quả xấu là lợi dụng việc nuôi con nuôi  vào những mục đích xấu (như bắt cóc trẻ em để đi bán làm con nuôi để trục lợi). Luật Nuôi con nuôi còn quy định: “Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho làm con nuôi sau khi con được sinh ra ít nhất 15 ngày

Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi đã đề cập đến vai trò của Uỷ ban nhân dân trong việc tư vấn đối với cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 về các vấn đề như mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Cụ thể, công chức tư pháp-hộ tịch phải tư vấn trẻ em tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của gia đình; trường hơp cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì công chức tư pháp-hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người có liên quan về mục đích nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa các bên sau khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ của trẻ được công chức tư pháp-hộ tịch lập thành văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.

3.3. Ý chí của người được nhận nuôi

Việc cho-nhận con nuôi ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của đứa trẻ, chính vì vậy mà pháp luật rất coi trọng ý chí của người được nhận làm con nuôi. Điều này được thể hiện qua quy định: “trường hợp nhận trẻ em từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”. Theo Luật Nuôi con nuôi, sự đồng ý của trẻ phải được thể hiện bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của trẻ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Đối với việc lấy ý kiến của trẻ về việc làm con nuôi thì vai trò của công chức tư pháp-hộ tịch vô cùng quan trọng. Họ có vai trò tư vấn giúp trẻ nhận thức rõ về cha mẹ nuôi, quyền và nghĩa vụ của trẻ trong tương lai từ đó giúp trẻ có quyết định đúng đắn trong việc làm con nuôi hay không làm con nuôi của mình

Ly hôn đơn phương và những điều cần biết

Hiện nay, vấn đề ly hôn không còn quá xa lạ với cộng đồng, khi hôn nhân không hạnh phúc, chúng ta có thể suy nghĩ đến việc ly hôn để bắt đầu cuộc sống mới. Một trong những trường hợp ly hôn phổ biến hiện nay là Ly Hôn Đơn Phương. Trong đó bị đơn thường là người không đồng ý và tìm mọi cách mọi lý do để không ký đơn ly hôn, thậm chí là không xuất hiện tại tòa án theo giấy triệu tập để thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật, ly hôn trong trường hợp như vậy gọi là Đơn Phương Ly Hôn.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2012 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.” Nếu đối phương (vợ hoặc chồng) không đồng ý ký vào đơn thì bên còn lại có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Về thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) được nộp tại tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người còn lại đang cư trú.

Hồ sơ ly hôn đơn phương, bao gồm:

  1. Đơn xin ly hôn
  2. Bản sao Giấy khai sinh của con (nếu có con);
  3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bạn và của người chồng;
  4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
  5. Các giấy tờ chứng minh về tài sản: ví dụ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ nêu trên, bạn cần gửi hồ sơ đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ hoặc chồng bạn (bị đơn) đang cư trú.

Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Tòa án sẽ thụ lý giải quyết đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề Ly hôn đơn phương. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ với chúng tôi để được luật sư tư vấn miễn phí, chi tiết nhất.