Câu hỏi: Xin luật sư cho em biết trong hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp sổ đồng sở hữu thì có hình thức hợp đồng mua bán công chứng ủy quyền. Như vậy thời gian ủy quyền này có thời gian bao lâu và nếu hết thời gian ủy quyền thì quyền sử dụng đất thuộc về ai? Em cảm ơn!

Trả lời: Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Công ty luật Thiên Nam đối với câu hỏi của bạn, Luật sư tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau: từ những thông tin bạn chia sẻ, chúng tôi nhận thấy bạn đang gặp vướng mắc trong vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của hợp đồng uỷ quyền mua bán đất đai.

Theo quy định tại điều 562, Bộ luật dân sự 2015 thì:

“Điều 562. Hợp đồng ủy quyền
Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Về thời hạn uỷ quyền, điều 563, Bộ Luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 563. Thời hạn ủy quyền
Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.”
Theo đó, hợp đồng uỷ quyền có thời hạn theo thoả thuận giữa các bên, nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực 01 năm kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền. Đối với hợp đồng uỷ quyền mua bán đất đai, hiện nay pháp luật chưa có quy định, do đó, nếu không có thoả thuận khác thì hợp đồng uỷ quyền này có hiệu lực 01 năm kể từ ngày xác lập.

Sau khi hết thời hạn uỷ quyền, nếu đất đai không được chuyển nhượng, mua bán thì quyền sử dụng đất thuộc về chủ sở hữu ban đầu. Ngược lại, trong thời hạn uỷ quyền, quyền sử dụng đất được chuyển nhượng cho người khác thì sau khi hết thời hạn uỷ quyền, quyền sử dụng đất sẽ thuộc về người được chuyển nhượng.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về hiệu lực của hợp đồng uỷ quyền mua bán đất đai. Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới Hotline phía dưới của công ty để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp luật.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Câu hỏi: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Với câu hỏi của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được pháp luật quy định cần có một trong những yếu tố sau:

– Có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.

+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu  nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.

+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có thể buộc người xâm hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”.

Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt hại. Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai..

Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại.

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.

Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền đó. Bởi vậy, Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Việc “xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư…

– Có lỗi của người gây thiệt hại.

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức lỗi là thái độ tâm lý của người  có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý  hay vô ý.

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và làm  chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó.

Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý  mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không phải bồi thường.

– Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên tắc của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: “Người nào… xâm phạm… mà gây thiệt hại…  thì phải bồi thường”. Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó.

Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan  một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ luật sư tư  vấn theo Hotline phía dưới để được giải đáp.

Đăng thông tin xâm phạm danh dự người khác lên mạng xã hội

Cho e hỏi, chị của e đang vay tiền của 1 người bạn, do ko đủ khả năng trả, người đó đăng tin lên face nhắn cho bạn bè và người thân của e. Làm mất uy tín và danh dự của e và gia đình.e có nên lên công an thành phố trình báo ko ạ?

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Thiên Nam, đối với câu hỏi của bạn Luật Thiên Nam xin được tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 34, Bộ luật dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự và uy tín như sau:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1.Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2.Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3.Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4.Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5.Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Theo đó, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Bạn của chị bạn không có quyền đăng tin lên facebook làm mất danh dự và uy tín của chị bạn và cả gia đình bạn. Với hành vi đăng thông tin thất thiệt lên mạng xã hội, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định:

Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3.Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin;

Theo đó, ngân hàng có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu ở mức độ nghiêm trọng hơn, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do đó, bạn hoàn toàn có thể trình báo công an hoặc mời luật sư tham gia bảo vệ để những kẻ đăng thông tin bôi nhọ danh dự người khác sẽ bị xử lý thích đáng.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề đăng thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ luật sư theo Hotline phía dưới

 

Các trường hợp về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Để phù hợp với tình hình kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã tìm đến việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp của mình. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thuộc một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp lựa chọn được loại hình phù hợp vs quy mô và sự phát triển của công ty hiện nay.

Thứ nhất về các trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

  • Chuyển từ công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần
  • Chuyển đổi từ công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
  • Chuyển đổi từ công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
  • Chuyển đổi từ doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn
  • Chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên và ngược lại

Hồ sơ cần khách hàng cung cấp:

  • GCN ĐKKD của công ty hiện tại
  • Loại hình muốn chuyển đổi
  • Thông tin các thành viên công ty
  • Tên loại hình, công ty sau khi thay đổi

Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Thiên Nam về vấn đề Các trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ với chúng tôi theo số Hotline phía dưới để gặp luật sư tư vấn.

Bộ Công an: ‘Làm rõ ba vụ án liên quan ông Nguyễn Đức Chung’

Bộ Công an: ‘Làm rõ ba vụ án liên quan ông Nguyễn Đức Chung’

Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh văn phòng Bộ Công an, nói cơ quan chức năng đang làm rõ việc Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ‘liên quan đến ba vụ án”.

Chiều 11/8, ông Nguyễn Đức Chung – Chủ tịch UBND TP Hà Nội, đã bị tạm đình chỉ công tác 90 ngày “để điều tra trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án theo quy định của pháp luật”.

Trả lời VnExpress, thiếu tướng Tô Ân Xô – Chánh văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, cho hay ba vụ án gồm:

– “Buôn lậu, vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; rửa tiền; vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại công ty trách nhiệm hữu hạn và thương mại Nhật Cường.

– “Vi phạm quy định về quản lý sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại UBND TP Hà Nội và các đơn vị liên quan.

– “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước” xảy ra tại Hà Nội.

Ông Xô nói, Bộ Công an đang chỉ đạo cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ.

Chiều 11/8, Bộ Chính trị đã quyết định đình chỉ sinh hoạt Ban chấp hành Đảng bộ, Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội và đình chỉ chức vụ Phó bí thư Thành ủy Hà Nội đối với ông Nguyễn Đức Chung – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Cùng ngày, Thủ tướng quyết định tạm đình chỉ công tác ông Chung.

Trước đó ngày 22/7, sau 6 ngày khởi tố vụ án Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước, Nguyễn Hoàng Trung, lái xe của Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung; Nguyễn Anh Ngọc, Phó trưởng Phòng thư ký biên tập thuộc Văn phòng UBND Hà Nội; Phạm Quang Dũng, 37 tuổi, cán bộ Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu (C03, Bộ Công an) bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, ra lệnh tạm giam để điều tra tội Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước,theo điều 337 Bộ luật Hình sự 2015.

Theo Bộ Công an, các bị can “có hành vi chiếm đoạt tài liệu mật” trong vụ án xảy ra tại Công ty Nhật Cường. Hôm 13/7, nhà và nơi làm việc của ông Trung, Ngọc Anh và Dũng đã bị cơ quan công an khám xét, ba ngày trước khi vụ án được khởi tố.

Thiếu tướng, Giám đốc công an thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung được bầu làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội (nhiệm kỳ 2011-2016) vào cuối năm 2015. Tại kỳ họp HĐND thành phố giữa năm 2016, ông Nguyễn Đức Chung tái đắc cử Chủ tịch UBND TP Hà Nội nhiệm kỳ 2016 – 2021 với số phiếu cao.

Vụ án xảy ra tại Nhật Cường được khởi tố từ giữa năm 2019. Bùi Quang Huy, Tổng giám đốc Nhật Cường, bị cáo buộc cầm đầu đường dây nhập lậu thiết bị điện tử quy mô lớn, giấu doanh thu hàng nghìn tỷ đồng. Ông ta bị khởi tố về bốn tội: Buôn lậu, Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, Rửa tiền, Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Huy được xác định đã trốn ra nước ngoài, bị truy nã quốc tế nhưng hơn một năm qua chưa có kết quả.

28 người đã bị khởi tố do liên quan vụ án này, trong đó có ông Nguyễn Văn Tứ, Chánh Văn phòng Thành ủy; bà Phạm Thị Thu Hường, Chánh Văn phòng Sở Kế hoạch và Đầu tư; ông Nguyễn Tiến Học, cựu phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; bà Phạm Thị Kim Tuyến, Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư…

Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng xác định vụ án Nhật Cường là nghiêm trọng, phức tạp, nên đã đưa vào diện theo dõi chỉ đạo. Theo kế hoạch, vụ án sẽ kết thúc điều tra trong quý III/2020.

-Vnexpress-

Quy định về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Câu hỏi: Xin chào Luật sư. Tôi có câu hỏi xin Luật sư trả lời giúp. Tôi có mua một phần đất đất trên sổ là đất trồng cây lâu năm. Vậy tôi có được chứng nhận quyền sử dụng đất không. Đất này không tranh chấp. Tôi muốn mua sau đó sẽ lên thổ cư và xây nhà, và tôi đã đăt cọc tiền rồi. Tôi hoang mang quá. Xin Luật sư trả lời giúp. Xin cảm ơn.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Thiên Nam. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp đất bạn muốn nhận chuyển nhượng là đất trồng cây lâu năm đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, đất không có tranh chấp.

Căn cứ tại Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định:

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

…”

Theo quy định pháp luật, người sử dụng đất được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện: Có Giấy chứng nhận QSDĐ, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và trong thời hạn sử dụng đất.

Và căn cứ tại Điều 99 Luật Đất đai 2013 quy định Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Như vậy, pháp luật quy định người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 99 nêu trên.

Trong trường hợp của bạn, nếu chủ đất có đủ điều kiện để chuyển nhượng đất cho bạn theo quy định pháp luật nêu trên và khi tiến hành nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có công chứng tại Văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã nơi có đất thì bạn có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ. Tuy nhiên, để được tách sổ riêng thì diện tích đất phải đáp ứng được diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định tại địa phương bạn.

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mà bạn muốn chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thì bạn cần phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và bạn phải nộp tiền sử dụng đất từ việc chuyển mục đích sử đụng đất.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khách hàng có nhu cầu cần giải đáp thắc mắc liên quan có thể liên hệ với luật sư theo số Hotline phía dưới để gặp luật sư

Con đường sa ngã của “tú bà” môi giới nam HLV thể hình bán dâm cho quý cô 22 tuổi

Sinh ra trong một gia đình có điều kiện khá giả ở Hà Nội, tuy nhiên Thảo lại muốn tự trải nghiệm cuộc đời và dấn thân vào con đường phạm pháp.

Liên quan đến vụ HLV thể hình bán dâm cho quý cô, ngày 10/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên vẫn đang tạm giữ Nguyễn Phương Thảo (SN 1999, trú phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng) để điều tra về hành vi Môi giới mại dâm.

Một vị cán bộ điều tra thuộc đội Cảnh sát hình sự, Công an quận Long Biên cho biết, Thảo chưa có tiền án, tiền sự, là con thứ 2 trong một gia đình có 3 chị em gái. Cô gái 21 tuổi này tại thời điểm bị tạm giữ đang là du học sinh Trung Quốc, chuyên ngành ngôn ngữ. Thảo sang Trung Quốc học tập từ năm 2019, mới trở về nước vào khoảng đầu năm 2020 do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn ra phức tạp. Trước khi đi du học, Thảo tốt nghiệp cấp 3 và đỗ vào một trường đại học trên địa bàn TP.Hà Nội.

“Gia đình Thảo làm kinh doanh, có điều kiện kinh tế khá giả. Suốt quá trình làm việc với chúng tôi, Thảo khai báo thành khẩn. Tuổi đời của Thảo còn rất trẻ nên cô gái này chưa có nhận thức nhiều về pháp luật”, vị cán bộ này cho hay.

Vị cán bộ cũng cho biết thêm, trong những lần chia sẻ về cuộc sống của mình với cán bộ điều tra, Thảo tâm sự dù gia đình có kinh tế khá giả, bản thân cũng có ngoại hình ưa nhìn nhưng Thảo muốn tự lập, trải nghiệm cuộc đời nên mới dấn thân vào con đường phạm pháp.

Trước đó, chiều 4/8, đội Cảnh sát hình sự kiểm tra hành chính một khách sạn trên địa bàn phường Long Biên, quận Long Biên và phát hiện một đôi nam nữ đang có hành vi mua, bán dâm.

Danh tính nam thanh niên được làm rõ là Kiên (SN 1990, tạm trú tại TP.Hà Nội, tên nhân vật đã được thay đổi), nữ khách hàng là một cô gái sinh năm 1998.

Kiên khai nhận, hiện đang là huấn luyện viên thể hình cho các trung tâm thể hình nổi tiếng trên địa bàn TP.Hà Nội. Với tính chất công việc tiếp xúc với nhiều người, Kiên sẵn sàng “vui vẻ” với các quý cô, quý bà chấp nhận mức giá mà anh ta đưa ra.

Ngoài ra, để kiếm thêm thu nhập, Kiên đã móc nối với Nguyễn Phương Thảo, Thảo đảm nhận vai trò móc nối các khách hàng cho Kiên.

Ngày 28/7, qua mạng xã hội, Thảo đã nhận lời một vị khách nữ muốn tìm người bán dâm là nam giới nên đã giới thiệu Kiên với giá là 18 triệu đồng.

Thảo sau đó thông báo cho Kiên với giá 12 triệu đồng, cá nhân “tú bà” đút túi 6 triệu đồng.

Chiều 4/8, khi cuộc mây mưa đang diễn ra thì Kiên bị lực lượng chức năng bắt quả tang.

Ngay sau đó, Thảo cũng đến trụ sở công an đầu thú.

Hiện vụ việc đang tiếp tục được điều tra, làm rõ.

_Pháp luật 24h_

Tra cứu logo Sở hữu trí tuệ

Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Đăng ký Sở hữu trí tuệ, Luật Thiên Nam tư vấn khách hàng tra cứu Logo sản phẩm, hàng hóa, công ty nhanh, hiệu quả chính xác nhất, tiết kiệm chi phí. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều mặt hàng, dịch vụ cùng loại nhưng khác bên sản xuất, cung ứng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng khác nhau. Do vậy, cần một dấu hiệu có khả năng phân biệt các nơi sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ cùng loại với nhau.

Từ đó, Logo là một phần không thể thiếu đối với các thương nhân sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường khi muốn tạo nên thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình. Nên việc đăng ký sử dụng logo với Cục Sở hữu trí thuệ là không thể thiếu. Hiểu sự khó khăn và thắc mắc của thương nhân “logo đã đáp ứng được điều kiện để được đăng ký bảo hộ chưa?”, chúng tôi xin cung cấp dịch vụ tư vấn tra cứu logo đến cho các bạn.

Tra cứu đối chứng bằng văn bản logo để từ đó tư vấn cho thương nhân những lựa chọn tốt giúp tăng khả năng được bảo hộ của logo (đây là hình thức tra cứu mất phí);

Tra cứu sơ bộ (miễn  phí) là hình thức tra cứu logo được tiến hành trên cơ sở dữ liệu tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Thư viện số về sở hữu công nghiệp – IPLIB) và cơ sở dữ liệu quốc tế (WIPO IP PORTAL) với độ chính xác cao trong quá trình tra cứu logo.

Tư vấn khả năng bị trùng, tương tự có thể bị dẫn đến khả năng bị từ chối của logo;

Tư vấn phân loại nhóm (lĩnh vực bảo hộ logo) theo bảng phân nhóm quốc tế đảm bảo;

Tư vấn mô tả logo nhằm bảo hộ tuyệt đối ý nghĩa và cách thức trình bày của logo;

Kiểm tra, đánh giá tình trạng pháp lý của các loại giấy tờ của khách hàng.

Tư vấn các vấn đề pháp lý khác có liên quan.

Khách hàng có nhu cầu cần đăng ký tra cứu logo nhãn hiệu để đạt được hiệu quả đăng ký Sở hữu trí tuệ tốt nhất, hãy liên hệ với chúng tôi theo số Hotline bên dưới để được các luật sư tư vấn

Vay nợ không có giấy tờ có đòi được không?

Câu hỏi: Mong luật sư giúp tôi, tôi có cho họ hàng vay số tiền lớn, nhưng vì tin tưởng nên không viết giấy cho vay, chỉ thỏa thuận với nhau qua tin nhắn, chuyển khoản. Vậy có đòi được không?

Trả lời: Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau: 

Bạn không có giấy vay nợ nhưng có đầy đủ tin nhắn và hình ảnh chứng minh về khoản tiền vay này thì bạn vẫn có thể căn cứ vào đó để yêu cầu người vay tiền của bạn phải thực hiện theo đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận bởi theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay không bắt buộc phải lập thành văn bản có ông chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015:

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Khi đã hình thành quan hệ tài sản trên thực tế thì người vay tiền của bạn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn cho vay trong thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu người vay đến thời hạn trả nợ mà cố tình không trả thì  bạn đã có những căn cứ chứng minh về việc người vay tiền của mình có khả năng, có tài sản những lại cố tình không trả nên bạn có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an cấp quận, huyện kèm theo những căn cứ chứng minh về hành vi này của người đã vay tiền của mình. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

Nếu trong trường hợp người vay tiền của bạn dùng thủ đoạn gian dối để nhằm làm cho bạn tin tưởng và giao tài sản cho sau đó chiếm đoạt số tài sản đó thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

…”

Như vậy, bạn có thể cung cấp những chứng cứ chứng minh về hành vi của người vay tiền của mình cho cơ quan công an, cơ quan công an sẽ căn cứ dựa vào những thông tin bạn cung cấp để tiến hành điều tra, xác minh xem có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của BLHS, trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội hình sự thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Trên đây là tư vấn của Luật sư cho vấn đề vay tiền không có giấy tờ có đòi được tiền của bạn, Khách hàng có thắc mắc cần giải đáp có thể liên hệ với luật sư để được tư vấn tốt nhất.

Lãi suất cho vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi

Hình thức cho vay tiền lấy lãi hiện nay đang diễn ra rất phổ biến. Tuy nhiên, cho vay như thế nào để không bị vướng vào vòng lao lý của cho vay nặng lãi là vô cùng quan trọng. Theo quy định pháp luật Dân sự về lãi suất thì:

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy lãi suất cho vay các bên có thể thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/ năm. Tức là các bên chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 1,6665%/tháng. Trường hợp các bên thỏa thuận mức cho vay vượt quá mức lãi suất mà pháp luật cho phép thì khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật chỉ bảo vệ phần lãi suất cho vay trong phạm vi pháp luật cho phép (tức bạn chỉ phải trả lãi suất là 1,666%/tháng).

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 có quy định như sau:

”1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy trường hợp của bạn là người cho vay có thể có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật về tội cho vay nặng lãi, mức lãi suất  hơn so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Trường hợp này, bạn có thể làm đơn trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết và đảm bảo quyền lợi.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề lãi suất vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ với Luật sư theo Hotline bên dưới