Hơn 500 bị hại đến phiên tòa theo dõi xét xử vụ lừa đảo tại Công ty Liên Kết Việt

(PLVN) – Ngày 21/12, TAND TP Hà Nội đưa ra xét xử vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty Cổ phần Liên kết sản xuất thương mại Việt Nam (gọi tắt là Công ty Liên Kết Việt).

7 bị cáo thuộc Công ty Liên Kết Việt bị đưa ra xét xử gồm: Lê Xuân Giang (SN 1971, nguyên chủ tịch HĐQT); Lê Văn Tú (SN 1985, nguyên tổng giám đốc); Nguyễn Thị Thủy (SN 1970, nguyên phó tổng giám đốc) và 4 bị cáo khác cùng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tại phiên toà dự kiến diễn ra trong 10 ngày này, Chủ tọa cho biết, Tòa đã mời hơn 6.000 người bị hại và 82 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tham gia tố tụng. Tuy nhiên, nhiều người trong số này có đơn xin vắng mặt. Có hơn 500 bị hại đến phiên tòa theo dõi xét xử.

Theo cáo trạng, Công ty Cổ phần tập đoàn thiết bị y tế BQP (viết tắt là Công ty BQP) và Công ty Liên Kết Việt đều do Lê Xuân Giang thành lập và điều hành hoạt động.
Lợi dụng Công ty Liên Kết Việt được cấp giấy phép kinh doanh bán hàng đa cấp với hàng hóa do Công ty BQP sản xuất, trong khoảng từ tháng 3/2014 đến tháng 11/2015, Lê Xuân Giang cùng các bị can đã sử dụng thủ đoạn gian dối, tạo dựng và cung cấp thông tin sai lệch cho các bị hại để tạo lòng tin về hoạt động kinh doanh của Công ty Liên Kết Việt và Công ty BQP.

Các bị cáo tìm mọi cách khiến bị hại nghĩ Công ty BQP là công ty thuộc Bộ Quốc phòng và Lê Xuân Giang cùng dàn lãnh đạo Công ty BQP là cán bộ của Bộ Quốc phòng; sản phẩm kinh doanh của công ty này là sản phẩm liên doanh, liên kết sản xuất với các doanh nghiệp, cơ quan uy tín của Bộ Quốc Phòng đã được thử nghiệm, đưa vào sử dụng tại các bệnh viện Trung ương.

Sau đó, các bị cáo sử dụng những thủ đoạn gian dối, trái pháp luật để lôi kéo khách hàng bỏ tiền tham gia hệ thống kinh doanh đa cấp nhằm hưởng hoa hồng, tiền thưởng cao như chỉ cần đóng tiền vào Công ty cổ phần Liên Kết Việt, không cần lấy hàng hóa ra để kinh doanh là có thể trở thành nhà phân phối, một người có thể đứng tên nhiều mã hàng…

Các bị cáo thuê người làm giả bằng khen của Thủ tướng và triển khai loạt chương trình, đưa ra những khoản khuyến mại lớn như nộp 7 triệu đồng sẽ được thưởng hơn 400 triệu. Hoặc nhà đầu tư vận động được nhiều người tham gia kinh doanh đa cấp sẽ được thưởng ôtô trị giá một tỷ đồng, hoặc căn nhà trị giá 1,8 tỷ đồng, tặng đi du lịch nước ngoài, được lên chức phó phòng, trưởng phòng, giám đốc được hưởng lương tháng, được ăn chia phần trăm số tiền thu được do các bị hại nộp vào tới 10 tỷ đồng mỗi tháng…

Lê Xuân Giang và đồng phạm còn đặt ra mô hình trả thưởng theo hình kim tự tháp, nghĩa là lấy tiền của người tham gia kinh doanh đa cấp sau để trả cho người tham gia trước. Số tiền thưởng, tiền hoa hồng hứa hẹn sẽ trả cho các nạn nhân lên tới trên 65% tổng số tiền thu được của chính các bị hại.
Để mở rộng mạng lưới và lôi kéo được nhiều bị hại đóng tiền tham gia vào hệ thống kinh doanh đa cấp của Công ty cổ phần Liên Kết Việt, Lê Xuân Giang và đồng phạm còn cho mở các đại lý của Công ty cổ phần Liên Kết Việt tại các tỉnh, thành phố, trong đó quy định về quyền lợi áp dụng cho các Trưởng chi nhánh, Văn phòng đại diện, đại lý để khuyến khích các bị cáo lôi kéo thêm nhiều bị hại tham gia tại các địa phương. Tính đến tháng 11/2015, Giang và đồng phạm đã mở 34 chi nhánh, văn phòng đại diện ở 27 địa phương, qua đó lôi kéo hơn 68.000 bị hại tại 49 tỉnh, thành.

Cáo trạng xác định các bị cáo thu của 68.000 bị hại tổng số tiền gần 2.100 tỷ đồng. Giang và đồng phạm chi phí thực tế hết khoảng một nửa khoản tiền thu được. Sau khi cấn trừ, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền hơn 1.100 tỷ.
Cơ quan chức năng làm rõ 6.053 bị hại có đầy đủ thông tin và địa chỉ. Những người này đã nộp hơn 580 tỷ cho nhóm của Giang và nhận lại 193 tỷ đồng hoa hồng.
VKS buộc Lê Xuân Giang và đồng phạm phải bồi thường hơn 390 tỷ.

—Báo pháp luật—-

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ ĐẤT CÔNG ÍCH

Đất công ích được quy định như thế nào

Theo quy định tại Điều 132 Luật Đất đai 2013:

Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương.

Đất nông nghiệp do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng cho Nhà nước, đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi là nguồn để hình thành hoặc bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

Đối với những nơi đã để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích vượt quá 5% thì diện tích ngoài mức 5% được sử dụng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất.

Đất công ích được sử dụng cho những trường hợp sau:

  • Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
  • Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng quy định tại điểm a khoản này;
  • Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương.

Đối với diện tích chưa được sử dụng thì UBND xã có thể cho cá nhân, tổ chức thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Thời hạn thuê không quá 5 năm, thông qua hình thức đấu thầu và trả tiền thuê đất.

Đơn vị có thẩm quyền cho thuê đất công ích

Trong cuộc sống thường nhật việc nảy sinh mâu thuẫn , phát sinh tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng thầu đất công ích thường xảy ra. Việc phát sinh tranh chấp này có rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là tranh chấp do UBND xã thu hồi đất trước thời hạn hợp đồng.

Hướng giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê đất công ích xã.

  • Quy định về thẩm quyền: Theo quy định tại điều  66 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất . Theo đó UBND cấp tỉnh sẽ có quyền ra quyết định thu hồi đất trong trường hợp này.
  • Quy định về bồi thường: Theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 76 Luật đất đai 2013 quy định về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại trong trường hợp nhà nước thu hồi đất công ích.

Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các khoản chi phí sau:

Chi phí san lấp mặt bằng;

– Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

– Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất…

Trong đó, hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất được nêu tại Điều 3 Thông tư 37/2014/TT-BTNMT gồm các giấy tờ sau đây:

– Văn bản, hợp đồng thuê, khoán san lấp mặt bằng, tôn tạo đất đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, cải tạo đất, chống xói mòn, chống xâm thực, xây dựng, gia cố nền đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

– Văn bản, thanh lý hợp đồng; hóa đơn, chứng từ thanh toán đối với từng khoản chi phí đã đầu tư vào đất.

– Văn bản, hợp đồng khác có liên quan đến việc đầu tư vào đất được xác lập tại thời điểm đầu tư.

Người có đất thu hồi không có một trong các loại giấy tờ nhưng thực tế đã có đầu tư vào đất thì UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình cụ thể tại địa phương quyết định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Trên đây là những cơ sở pháp lý căn bản nhất trong trường hợp phát sinh tranh chấp hợp đồng thuê đất công ích

Như thế nào là cho vay nặng lãi, mức xử phạt ra sao?

Vay tiền hiện nay là một giao dịch phổ biến, tuy nhiên nhiều người đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết cũng như sự cần thiết của bên vay mà đưa ra mức lãi suất trên trơi. Dưới đây là nội dung mà người vay lẫn người cho vay cần lưu ý để tránh sự can thiệp của pháp luật.

Lãi suất cho vay là bao nhiêu thì phạm tội cho vay nặng lãi?

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất 20%/năm.

Như vậy, trường hợp lãi suất do các bên thỏa thuận không được vượt quá: 20%/ năm của khoản tiền vay

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 20% : 12 tháng = 1,666%/tháng

Điều 201 BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội cho vay nặng lãi: 

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên155, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tương đương lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định trên tháng là: 5 lần x 1,666%  = 8,33%

Như vậy, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 5 lần trở lên thì mới cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự

Trường hợp bên vay không trả được nợ và phía bên cho vay khởi kiện ra tòa án thì pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của bên cho vay trong phạm vi lãi suất mà pháp luật cho phép. Phần vượt quá lãi suất sẽ không được pháp luật bảo vệ.