Bài học pháp lý từ văn hóa ứng xử trên mạng xã hội

Bài học pháp lý từ văn hóa ứng xử trên mạng xã hội

Hiện nay, các nền tảng trực tuyến, đặc biệt là facebook ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, đây có thể là phương tiện giải trí nhưng cũng rất dễ trở thành con dao hai lưỡi, mang lại những hệ quả rắc rối cho người dùng nếu chúng ta sử dụng sai cách. Vụ việc pháp lý sau đây có lẽ sẽ khiến cho bạn đọc có được nhận thức rõ ràng hơn về sự cẩn trọng khi sử dụng các trang mạng xã hội, đặc biệt là khi đăng tải các thông tin tới cộng đồng.

Vào hồi 13h40p ngày 19/07/2021, xuất hiện facebooker với tài khoản CC (Tên thật là NTHT) đã đăng tải một bài viết với tựa đề “Hbl (tên thương hiệu công ty và tên sản phẩm đã được viết tắt) để giảm cân?” cùng lời dẫn nhập “Có chết tôi cũng không chọn Hbl! Vì quá độc, giá thành nó nhập vào cực kì rẻ bị độ giá lên 800k-1tr-1,5tr -2tr ở Việt Nam!”. Bài viết sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau, bao gồm cả trong và ngoài nước, với nội dung đề cập đến một số sản phẩm của Hbl có chứa các chất độc hại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người và thậm chí gây tử vong.

Bài viết còn đề cập đến việc một số sản phẩm của Hbl, cụ thể là “Sản phẩm đồ uống Hbl Afresh” và “Sản phẩm sữa Protein (Personalized Protein Powder)” có chứa các chất độc hại, kim loại nặng, thậm chí là nguyên tố phóng xạ.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, sản phẩm tương tự có tên “Thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt: Bột Protein” của Hbl đã được Chi cục Vệ sinh An Toàn Thực phẩm (thuộc Sở Y tế Hà Nội) cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm số 3935/2019/ĐKSP ngày 30/10/2019. Theo đó, bảng thành phần sản phẩm này không chứa các thành phần độc hại như trên bài viết. Chủ sở hữu của facebook này cho là nguyên nhân “phá hủy chức năng khu vực não, phổi, thận”, “gây suy gan” và liên quan đến cái chết của một phụ nữ 24 tuổi tại Ấn Độ sau 02 tháng sử dụng các sản phẩm trên. Để củng cố cho cáo buộc này, facebooker đã dẫn chứng những nguồn thông tin như sau:

1, Bài viết có tiêu đề “Giảm béo đến chết: Suy gan cấp tính gây tử vong đến Hbl – Kim loại nặng, hợp chất độc hại, chất gây ô nhiễm vi khuẩn và tác nhân hướng thần trong các sản phẩm được bán ở Ấn Độ” trên trang của Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia Hoa Kỳ (https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/31024209/). Đây là bài nghiên cứu được đăng tải trên nguyệt san tháng 3 năm 2019 Tạp chí Gan mật Thực nghiệm và lâm sàng (“JCEH”), sau đó bị xóa theo yêu cầu của chính Tổng biên tập JCEH và Hiệp hội Quốc gia Ấn Độ về Nghiên cứu gan (INASL) – được công bố trên số tháng 1 năm 2020 của nguyệt san này, với lý do “INASL và JCEH không còn hỗ trợ nội dung và kết luận được rút ra trong bài báo vì phương pháp luận khoa học, phân tích và giải thích dữ liệu trong bài báo không đủ cho các kết luận được rút ra và, với việc xóa nó, bài báo không còn có thể được tin tưởng” (https://www.jcehepatology.com/article/S0973-6883(19)30307-X/fulltext#relatedArticles).

2, Bài viết trên Báo Tuổi trẻ (Vụ tử vong nghi uống Hbl, chuyên gia cảnh báo thực phẩm chức năng) đăng vào tháng 05 năm 2019. Tuy nhiên, đây chỉ là bài dịch của Báo Tuổi trẻ từ các nguồn thông tin như Tạp chí Journal of Clinical and Experimental Hepatology (Ấn Độ) và trang Docdroid.net mà không hề có bất kỳ tham chiếu và trích dẫn từ những nguồn này.

Không dừng lại ở đó, bài đăng tải của facebooker CC còn cáo buộc sản phẩm của Hbl là nguyên nhân gây ra cái chết của một cụ bà 75 tuổi tại Việt Nam (https://www.facebook.com/groups/beatreview/posts/479088783199299/) – đây là vụ việc ở Lào Cai, đại diện Hbl đã liên hệ với gia đình, bà cụ đã ra viện (có thêm tư liệu).

Tính cho đến thời điểm hiện tại, bài viết đang thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng với hơn 2.300 lượt tương tác, 19.000 bình luận cùng hơn 6.100 lượt chia sẻ và các con số này vẫn đang không ngừng tăng lên.

Khi phát hiện ra hành vi này, đại diện phía Công ty TNHH MTV HBL Việt Nam đã liên hệ với Trung tâm Văn hóa Doanh nhân để nhờ hỗ trợ pháp lý. Ban pháp chế Trung tâm Văn hóa Doanh nhân cử Luật sư Vũ Minh Tiến nghiên cứu hồ sơ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty.

Xem xét các tài liệu, chứng cứ có liên quan, Luật sư cho rằng hành vi của chủ tài khoản facebook này đã có dấu hiệu vi phạm Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông”.

Bà HTHT – Chủ tài khoản facebook này đã trên 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ khả năng nhận thức rõ được tính nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện. Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì NTHT đã có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, hành vi này cũng vi phạm điểm d Khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng năm 2018 về những hành vi bị cấm về an ninh mạng: “Sử dụng không gian mạng để thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

Điểm b Khoản 3 Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018 cũng quy định thông tin trên không gian mạng có nội dung vu khống bao gồm “Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

Vào ngày 14/11/2021, hai bên đã tiến hành buổi làm việc để trao đổi về sự việc trên. Bà NTHT đã trình bày: Do k có hiểu biết pháp luật nên đã có hành vi vi phạm trên. Tuy nhiên, bà không có bất cứ ý định nào xâm phạm đến hình ảnh và thương hiệu của công ty. Bên cạnh đó, bà chỉ chia sẻ những bài viết có sẵn, trong đó có chứa các thông tin không có tính xác thực chứ hoàn toàn không có ý định công kích về sản phẩm chính hãng. Bà xin lỗi công ty về những hành vi thiếu hiểu biết của bà đã gây ra. Đồng thời bà cam kết không tiếp tục có hành vi chia sẻ như trên và trong vòng 05 ngày làm việc, sẽ tự nguyện dựng clip để xin lỗi và đính chính công khai trên mạng xã hội facebook, đề nghị xem xét rút đơn  yêu cầu xử lý tại cơ quan có thẩm quyền.

Tiếp theo, ngày 16/11/2021, bà NTHT đã cam kết sẽ bàn giao clip cho đại diện của công ty đồng thời cam kết sẽ không thực hiện bất kỳ hành vi nào tương tự và gây ảnh hưởng đến công ty, cam kết tự nguyện bồi thường những tổn thất mà mình đã gây ra.

Có thể nhận thấy, do sự thiếu hiểu biết pháp luật và thiếu cẩn trọng, chỉ với một bài viết đăng tải trên mạng xã hội, hành vi trên của NTHT đã gây dư luận xấu và làm giảm uy tín của Công ty TNHH MTV HBL Việt Nam dẫn đến thiệt hại nặng nề về kinh tế của công ty.

Trên đây là một trong số rất nhiều những vụ việc xảy ra trên không gian mạng xã hội hiện nay. Câu chuyện pháp luật này đã mang đến bài học cho những ai đang có thói quen sử dụng mạng xã hội – cần phải tìm hiểu rõ các thông tin đồng thời nắm vững các quy định của pháp luật trước đi đăng tải, chia sẻ các thông tin. Đây cũng là một câu chuyện kết thúc có hậu, hợp tình, hợp lí, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho cả 2 bên.

Thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu mới nhất

Thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu mới nhất

Hiện nay, khi kiến thức pháp luật ngày càng được phổ biến rộng rãi, mọi người đã quan tâm hơn tới vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Vậy thì  quyền sở hữu nhãn hiệu có thể chuyển giao được không? Thủ tục chuyển giao như thế nào? Luật Thiên Nam sẽ giúp các bạn giải đáp những thắc mắc ngay bây giờ nhé!

Căn cứ theo quy định tại Điều 138-140 Luật Sở hữu trí tuệ và Quyết định số 3675/QĐ-BKHCN ngày 25/12/2017 của Bộ Khoa học và công nghệ vv công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực SHTT thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Khoa học và công nghệ thì để thực hiện việc chuyển nhượng, cần phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ.

Hồ sơ chuyển nhượng gồm:

1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

– Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;

– Căn cứ chuyển nhượng;

– Giá chuyển nhượng;

– Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng.

2. Tờ khai đăng ký chuyển nhượng nhãn hiệu theo mẫu quy định;

3. Bản gốc hoặc bản sao hợp lệ hợp đồng; (nếu hợp đồng làm bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt thì phải kèm theo bản dịch hợp đồng ra tiếng Việt; hợp đồng có nhiều trang thì từng trang phải có chữ ký xác nhận của các bên hoặc đóng dấu giáp lai.)

4. Bản gốc văn bằng bảo hộ;

5. Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, văn bản giải trình lý do không đồng ý của bất kỳ đồng chủ sở hữu nào về việc chuyển giao quyền nếu quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc sở hữu chung;

6. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận và tài liệu chứng minh quyền nộp đơn của Bên nhận chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể

7. Bản sao chứng từ nộp phí, lệ phí (trường hợp nộp phí, lệ phí qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục Sở hữu trí tuệ)

8. Giấy ủy quyền nộp hồ sơ (nếu nộp qua bưu điện)

Thời hạn để giải quyết hồ sơ: 02 tháng

Trên đây là toàn bộ những thông tin cần biết về thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất!

Nhà đầu tư nước ngoài có được góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam không?

Nhà đầu tư nước ngoài có được góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam không?

Hiện nay, khi nền kinh tế đang ngày càng phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia ngày càng trở nên phổ biến hơn. Vậy thì nhà đầu tư nước ngoài có được góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam không? Cần đáp ứng những điều kiện gì để có thể tiến hành góp vốn? Luật Thiên Nam sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc ngay bây giờ nhé!

Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư và  Thông tư số 03/2021/TT-BKHĐT quy định mẫu văn bản, báo cáo liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam, đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài và xúc tiến đầu tư thì điều kiện thực hiện góp vốn gồm:

1. Các điều kiện về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong tổ chức kinh tế đã thành lập tại Việt Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Luật Đầu tư và các Điều 15, 16 và 17 của Nghị định số 31/2021/NĐ-CP;

2. Điều kiện về bảo đảm quốc phòng, an ninh và điều kiện sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong trường hợp tổ chức kinh tế đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới và xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trừ tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế được thành lập theo quy định của Chính phủ.

Trình tự, thủ tục thực hiện:

Nộp văn bản đăng ký mua cổ phần tại tại Sở Kế hoạch và đầu tư hoặc Ban quản lý các KCN, KCX nơi công ty Việt Nam đặt trụ sở. Các trường hợp phải nộp văn bản đăng ký gồm:

– Tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài

– Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Thành phần hồ sơ:

1. Văn bản đăng ký mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài: Mẫu A.I.7 ban hành kèm theo thông tư số 03/2021/TT-BKHĐT;

2. Bản sao hợp pháp hóa lãnh sự Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư;

3. Văn bản thỏa thuận nguyên tắc về việc mua cổ phần giữa nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần hoặc giữa nhà đầu tư nước ngoài với cổ đông hoặc thành viên của tổ chức kinh tế đó.

Trên đây là toàn bộ những thông tin cần thiết để trả lời cho câu hỏi: “Nhà đầu tư nước ngoài có được góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam không?”. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác và hiệu quả nhất!

Tranh chấp thừa kế theo di chúc của những người trong gia đình

Tranh chấp  thừa kế theo di chúc của những người trong gia đình

Thừa kế từ lâu luôn là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự. Mặc dù hiện nay, các quy định của pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản tương đối đầy đủ nhưng trên thực tiễn xét xử, việc đánh giá giá trị pháp lý của di chúc vẫn luôn là một vấn đề cần được đặt ra để nghiên cứu, trao đổi.

Ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội thụ lý vụ kiện “Tranh chấp thừa kế theo di chúc” giữa nguyên đơn là ông Đặng Hữu C với bị đơn là ông Đặng Hữu P. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này là những người thân trong gia đình ông Chinh và ông Phức, ông Nguyễn Khương Tỵ, ông Ngụy Trung Thành, bà Trịnh Thị Hồng.

Gia đình ông C và ông P có cha đẻ là cụ Đặng Hữu T (1931-2008) và mẹ là cụ Phùng Thị H (1933-2002). Hai cụ có 08 người con là: Bà Đặng Thị T (đã chết); Ông Đặng Hữu K; Bà Đặng Thị H; Ông Đặng Hữu P; Bà Đặng Thị T; Ông Đặng Hữu N; Ông Đặng Hữu C và bà Đặng Thị H.

Sinh thời, hai cụ tạo dựng được khối tài sản là: 02 thửa đất hiện đang phát sinh tranh chấp, thửa đất số 223 và thửa đất số 224, tờ bản đồ số 04 tại thôn Thái Hòa, xã Bình Phú. Hai thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được gia đình cụ T sử dụng trước năm 1993 và đang được ông P và ông N (hai anh trai của ông C) sử dụng. Một phần của thửa đất, ông Phức đã tự ý bán cho ông Nguyễn Khương Tỵ là người cùng thôn từ nhiều năm trước, việc mua bán được hai bên xác lập bằng viết tay, không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

Khi còn sống, cụ T có cho ông P và ông N sử dụng thửa đất. Sau khi biết ông P có ý định bán cho ông Tỵ một phần thửa đất này, cụ T và ông P đã xảy ra mâu thuẫn, sau đó cụ T có lập một bản di chúc và được UBND xã Bình Phú chứng thực. Nội dung của bản di chúc thể hiện thửa đất chia làm 03 phần trong đó ông P, ông N và ông C mỗi người được sử dụng một phần.

Sau khi cụ T qua đời, ông C và các anh trong gia đình không tự thỏa thuận phân chia được do đó đã xảy ra mâu thuẫn trong gia đình, ông C đã có đơn đề nghị được giải quyết theo pháp luật về chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 223 và thửa đất số 224.

Ban pháp chế Trung tâm Văn hóa Doanh nhân cử luật sư Vũ Minh Tiến nghiên cứu hồ sơ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Phức và ông N theo đơn mời của hai ông.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ luật sư xác định hiệu lực của bản di chúc do cụ T để lại chính là một nút thắt quan trọng để giải quyết vụ việc trên.

Theo yêu cầu khởi kiện của ông C thì đây là bản di chúc viết tay, có chứng thực của UBND xã Bình Phú ngày 24/5/2004 nhưng qua hồ sơ vụ án thì không tìm thấy bản gốc của bản di chúc này mà chỉ có Bản sao y bản chính, ký tên Đặng Hữu T, được chứng thực bởi ông Nguyễn Khắc Lực – Chủ tịch UBND xã Bình Phú. Việc chứng thực sao y bản chính bản di chúc này là do ông Đoàn Văn Mây – Phó Chủ tịch UBND xã Bình Phú thực hiện có số chứng thực 149, quyển sổ 01 TP/CC ngày 20/01/2010.

Theo thông tin trong Bản di chúc ngày 24/5/2004 thì bản gốc của bản di chúc này được lập thành 02 bản, 01 bản lưu tại UBND xã Bình Phú, 01 bản cấp cho người lập di chúc. Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ngày 02/12/2016, ông Nguyễn Khắc Tâm – cán bộ tư pháp xã Bình Phú cho biết UBND xã Bình Phú đã tìm lại hồ sơ lập di chúc của cụ Tái nhưng không thấy nên UBND không có tài liệu để cung cấp cho Tòa án.

Vào thời điểm giải quyết vụ án, ông Nguyễn Trường Lực – cán bộ tư pháp xã ghi lời chứng thực của bản di chúc đã qua đời. Bản gốc của bản di chúc ngày 24/5/2004 là không có và việc sao y bản chính bản di chúc này vào ngày 20/01/2010 có dấu hiệu giả mạo. Do đó bản sao bản di chúc mà phía nguyên đơn cung cấp cho Tòa án không phải là chứng cứ hợp pháp để xem xét giải quyết trong vụ án này.

Có thể nhận thấy, bản di chúc do cụ Đặng Hữu T lập không chỉ gặp vấn đề về mặt hình thức mà còn có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật bởi tài sản được định đoạt trong bản di chúc là tài sản đang có tranh chấp và không rõ ràng, không còn thuộc quyền của người lập di chúc.

Căn cứ vào lời khai của ông Nguyễn Khương Tỵ, bà Phùng Thị Lý, ông Đặng Hữu N, ông Đặng Hữu P và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào thời điểm cụ Tái lập di chúc định đoạt phần diện tích đất mà ông P đang quản lý, sử dụng thì phần diện tích đất này đang có tranh chấp. Cụ thể: Vào ngày 14,15/6/2003 âm lịch (tức ngày 13,14/7/2003 dương lịch, vợ chồng ông Đặng Hữu P và bà Đặng Thị H đã chuyển nhượng 01 gian nhà cấp 4 cùng 100m2 đất cho vợ chồng ông Nguyễn Khương Tỵ và bà Phùng Thị Lý (hai bên có lập giấy chuyển nhượng viết tay), cùng trong năm 2003 khi vợ chồng ông Tỵ tiến hành xây nhà thì cụ T ra ngăn cản và xảy ra tranh chấp giữa ông P và cụ T.

Như vậy, tài sản đối với thửa đất mà cụ T định đoạt trong di chúc là tài sản đang có tranh chấp. Việc UBND xã Bình Phú chứng thực vào bản di chúc này nhưng không điều tra xác minh nguồn gốc, hiện trạng thửa đất dẫn đến nội dung chứng thực không đúng với thực tế của việc quản lý, sử dụng đất là trái với quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.

Nội dung của bản di chúc ngày 24/5/2004 chỉ đề cập tới số mét của chiều ngang (chiều dài giáp mặt đường làng) thửa đất, không chỉ rõ cụ thể diện tích thửa đất là bao nhiêu mét vuông và đến thời điểm hiện tại thì cái ao được cụ T xác định trong bản di chúc cũng không còn. Tại Biên bản làm việc (V/v: Xác minh nguồn gốc đất” do Luật sư Vũ Minh Tiến – người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Phức và ông Nhan) được lập ngày 17/11/2011 tại trụ sở UBND xã Bình Phú, có nội dung: “Theo hồ sơ địa chính lưu tại ủy ban xã thì nguồn gốc của thửa đất của cụ Đặng Hữu T  là thửa số 334, tờ bản đồ số 03 với diện tích là 840m2 thuộc loại đất ao theo bản đồ đo đạc năm 1975 và sổ mục kê lập năm 1975 (tỷ lệ 1/1000). Đến năm 1985, theo quy hoạch chung của Hợp tác xã nông nghiệp Bình Phú là ủi ao nhỏ thành ao lớn thì thửa đất ao của ông T thuộc diện bị quy hoạch, chỉ còn lại bờ tre gia đình ông T tiếp tục quản lý, sử dụng và được hình thành nên thửa đất như hiện nay…”

Tại Biên bản xác minh ngày 29/3/2018 do Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xác minh nguồn gốc thửa đất số 223, 224 thôn Thái Hòa, cán bộ địa chính xã Bình Phú trình bày vào năm 1985, thực hiện chủ trương của nhà nước dồn các ao nhỏ thành ao lớn, toàn bộ diện tích đất ao trên đã vào hợp tác xã.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên có thể nhận thấy, toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp không còn là của cụ Đặng Hữu T nữa. Do vậy, việc cụ Tái lập di chúc và định đoạt phần diện tích đất này là trái với quy định của pháp luật.

Phán quyết của tòa án nhân dân huyện Thạch Thất

Bản án sơ thẩm số: 16/2018/DS-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất đã bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Chinh vì thửa đất ông C yêu cầu chia di sản theo di chúc cụ T để lại không rõ ràng, không xác định được mốc giới. Dựa trên những tài liệu, chứng cứ đã có, Tòa án xác định cụ Tái đã chia tài sản cho các con và đối tượng của di chúc đã được phân chia và không còn là di sản thừa kế.

Tòa án đã ra phán quyết đúng quy định của pháp luật đồng thời hài hòa lợi ích ba anh em ông, do đó những mâu thuẫn, hiểu lầm giữa các anh em trong gia đình ông C và ông P đã được hóa giải. Vụ án trên là bài học cho những người để lại di sản thừa kế khi lập di chúc, người lập cần đặc biệt lưu ý đến hình thức và nội dung của di chúc để đảm bảo hiệu lực pháp luật và khả năng thực thi trên thực tiễn. Bên cạnh đó, tình anh em, sự yêu thương đùm bọc giữa anh chị em trong gia đình còn quý hơn cả những tài sản vật chất.

Câu chuyện pháp luật: Nhập nhèm giữa giao dịch vay tài sản và giao dịch chuyển nhượng nhà đất

Nhập nhèm giữa giao dịch vay tài sản và giao dịch chuyển nhượng nhà đất

Hiện nay, các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay giao dịch vay, mượn tài sản xuất hiện ngày càng phổ biến. Do nhu cầu thực tiễn các bên luôn tìm cách hợp thực hóa các giao dịch của mình, đôi khi bằng phương pháp lách luật vô hình chung đẩy các bên đến tình huống tranh chấp trước pháp luật, kết luận cuối cùng là phán quyết của Tòa án trên cơ sở “Chứng cứ chứng minh”, mà đôi khi phán quyết của Tòa làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của một bên, tuy nhiên phán quyết của Tòa dựa trên những nguồn chứng cứ được chuyển hóa thành chứng cứ có giá trị pháp lý và các quy định có hiệu lực của pháp luật.

Ngày 07/12/2017, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã thụ lý vụ án số: 238/2017/TLPT-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở – Nguyên đơn là ông Bùi Xuân T, bị đơn là bà Nguyễn Thị H để xét xử phúc thẩm.

Theo nội dung vụ án trên thì hai bên đã tham gia giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng 05 thửa đất tại Thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội và 01 thửa đất tại phường Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội.

Nội dung cụ thể như sau:

  1. Ngày 11/3/2008, ông Nguyễn Thành H và bà Đặng Thị Kim O có ký hợp đồng vay tiền để kinh doanh với bà Nguyễn Thị H, theo hợp đồng thì bà Nguyễn Thị H cho ông Nguyễn Thành H, bà Đặng Kim O vay số tiền 250 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản.

Tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất số 61, tờ bản đồ 01, Thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội. Hợp đồng này đã được ký kết và chứng thực tại phòng công chứng số 5.

  1. Ngày 11/3/2008, ông Nguyễn Tiến C và bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng vay tiền số 11/2008 với nội dung bà Nguyễn Thị Hồng cho ông Nguyễn Tiến C vay số tiền 100 triệu đồng, thời hạn 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản. Ngày 11/3/2008, ông Nguyễn Tiến C, bà L ký kết hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng tại phòng công chứng số 1.

Tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất số 116, tờ bản đồ số 01, Thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội.

  1. Ngày 26/12/2007, ông Nguyễn Quang T, bà Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Quang H, anh Nguyễn Quang H và bà Nguyễn Thị H đã ký hợp đồng vay tiền số 10/2007, với nội dung bà Nguyễn Thị H cho ông Nguyễn Quang T, bà Nguyễn Thị D, anh Nguyễn Quang H, anh Nguyễn Quang H vay số tiền 200 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên cùng ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, Thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội, hợp đồng này đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

  1. Ngày 23/4/2008, ông Đào Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L và bà Nguyễn Thị H ký hợp đồng vay tiền để kinh doanh số 14/2008/HĐVT, nội dung bà Nguyễn Thị H cho ông Đào Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L vay số tiền 400 triệu đồng, thời hạn 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản.

Tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất số 36, tờ bản đồ số 07, Thôn Giang Cao, Bát Tràng Gia Lâm, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

  1. Ngày 26/12/2007, ông Trần Gia H, bà Lê Thị D, chị Trần Thị Bích H và bà Nguyễn Thị H ký kết hợp đồng vay tiền để kinh doanh số 09/2007, nội dung bà Nguyễn Thị H cho ông Trần Gia H, bà Lê Thị D, chị Trần Bích H vay số tiền 600 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất số 72(1), tờ bản đồ số 09, Thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

  1. Ngày 11/4/2008, ông Nguyễn Trần P ký kết hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H về quyền sử dụng thửa đất số 43(3), tờ bản đồ số 22, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

Theo nội dung của 6 hợp đồng ủy quyền nêu trên, bà Nguyễn Thị H có quyền đại diện cho 05 hộ gia đình ở Thôn Giang Cao, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội và 01 hộ gia đình ở phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 06 thửa đất nêu trên giữa bà Nguyễn Thị H và ông Bùi Xuân T không có điều khoản nào thể hiện việc vay mượn hay thỏa thuận về việc vay, nợ tiền cũng không có tài liệu nào thể hiện bà Nguyễn Thị H có trao đổi nội dung nào khác với ông Bùi Xuân T ngoại trừ nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất đã được ghi trong hợp đồng. Theo đơn khởi kiện thì ông Bùi Xuân T yêu cầu bà Nguyễn Thị H cùng các hộ gia đình đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, nhà xưởng phải bàn giao tài sản và thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Nay do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không công chứng nên ông Bùi Xuân T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng này vô hiệu và buộc bà Nguyễn Thị H cùng các hộ đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải bồi thường khoản tiền thiệt hại do làm cho hợp đồng này vô hiệu.

Ông Bùi Xuân T đã liên hệ với Trung tâm Văn hóa Doanh nhân để nhờ hỗ trợ pháp lý. Ban pháp chế Trung tâm Văn hóa Doanh nhân cử Luật sư Vũ Minh Tiến nghiên cứu hồ sơ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Xuân T theo đơn mời của ông. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư nhận định rằng: Việc xác định hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được ký kết ngày 09/5/2008 là mấu chốt của sự kiện tranh chấp trên.

Thông qua hợp đồng và giấy nhận tiền ngày 09/5/2008 giữa bà Nguyễn Thị H với ông Bùi Xuân T, có cơ sở khẳng định hai bên đã thực hiện giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối. Theo thỏa thuận sau 30 ngày, bà Nguyễn Thị H phải thực hiện việc công chứng, chứng thực nhưng bà Nguyễn Thị H đã không thực hiện. Mặc dù khi ký kết Hợp đồng, hai bên cam đoan: “Việc giao kết hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, trung thực không bị lừa dối hoặc ép buộc” đồng thời có việc giao nhận tiền và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền nhưng Hợp đồng này lại chưa được công chứng, chứng thực, chưa tiến hành các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cũng như bàn giao tài sản giữa các bên, Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng trong một tháng nhưng hai bên đã không thực hiện được. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng trên vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là có cơ sở.

Phán quyết của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội

Hội đồng xét xử đã quyết định sửa bản án sơ thẩm số 11/2017/DS-ST ngày 12/9/2017 của Tòa án Nhân dân huyện Gia Lâm đồng thời đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 26/9/2017 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Gia Lâm. Tòa án đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Xuân T và bà Nguyễn Thị H lập ngày 09/5/2008 bị vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Phán quyết của Tòa án đúng quy định của pháp luật, có tình, có lý măc dù phán quyết trên ảnh hưởng đến phần nào lợi ích của một bên, nhưng sự kiện pháp lý này cũng là bài học quý giá dành cho những người tiến hành giao kết các giao dịch dân sự cần hiểu rõ, hiểu đúng các quy định của pháp luật để các giao dịch đó không bị vô hiệu là chìa khóa quan trọng để đảm bảo quyền lợi của các bên.

Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?

Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?

Theo quy định tại Điều 68 BLDS năm 2015, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Vậy thì khi nào Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu một bên mất tích?

Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 định nghĩa: “ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 68 BLDS năm 2015 cũng quy định: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Do đó, trong trường hợp người vợ hoặc chồng mất tích, bên còn lại muốn ly hôn thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết đơn phương ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Trên đây là toàn bộ những giải đáp của Luật Thiên Nam cho câu hỏi: “Chồng mất tích, vợ có được quyền ly hôn không?”. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn chính xác, nhanh chóng và hiệu quả nhất!

Hiểu thể nào về tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”?

Hiểu thể nào về tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”?

Hiện nay, dịch bệnh covid 19 đã và đang có những diễn biến ngày càng phức tạp trên phạm vi toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Bộ luật Hình sự năm 2015 đã góp phần tích cực trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

Vậy thì các yếu tố cấu thành tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” theo quy định của pháp luật hiện hành là gì? Luật Thiên Nam sẽ cùng các bạn đi tìm kiếm câu trả lời ngay bây giờ nhé!

Tội danh này được quy định tại Điều 240 BLHS năm 2015 với những dấu hiệu định tội sau:

  1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ thể thực hiện hành vi “cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người” hoặc hành vi “cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người” là chủ thể đặc biệt – người có thẩm quyền ho phép mang vào, đưa ra khỏi vùng có dịch động, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, hoặc là người có trách nhiệm trong việc cho phép đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người hoặc thuộc diện kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm dịch.

  1. Mặt khách quan của tội phạm

2.1. Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội phạm này bao gồm:

– Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người,

– Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;

– Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

Trước tình hình diễn biến của dịch bệnh Covid-19 ngày càng phức tạp gây thương vong về người là rất lớn, kéo theo khủng hoảng kinh tế và gây mất trật tự an toàn xã hội, ngày 30/3/2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Văn bản đã cụ thể hóa “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 240 BLHS, như sau: Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh Covid-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau đây gây lây truyền dịch bệnh Covid-19 cho người khác thì bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” và bị xử lý về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người:

– Trốn khỏi nơi cách ly;

– Không tuân thủ quy định về cách ly;

– Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

– Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

2.2. Hậu quả thiệt hại

Hậu quả của nhóm tội này là làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người hoặc là gây thiệt hại về tài sản giá trị từ 100 triệu đồng trở lên do việc làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật. Thiệt hại được tính đến ở đây không chỉ là thiệt hại cho người nuôi, trồng mà bao gồm cả các chi phí nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan, đồng thời để xóa bỏ dịch bệnh.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, có thể làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người nhưng vẫn thực hiện do mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

  1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, bao gồm: tính mạng, sức khỏe của con người, nền kinh tế…

Trên đây là toàn bộ những dấu hiệu pháp lý của tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” theo quy định của BLHS năm 2015. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất!

Di chúc miệng có hiệu lực pháp lý khi nào?

Di chúc miệng có hiệu lực pháp lý khi nào?

Hiện nay, việc lập di chúc ngày càng trở nên phổ biến hơn trong đời sống. Có rất nhiều bạn đọc băn khoăn không biết di chúc miệng có hiệu lực pháp lý không? Cần đảm bảo những điều kiện gì để được pháp luật bảo vệ?

Vì vậy, Luật Thiên Nam sẽ cùng các bạn giải đáp những thắc mắc liên quan tới vấn đề này. Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015 thì: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu đáp ứng được các điều kiện sau:

– Người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng

– Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. – Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 629 BLDS năm 2015 thì sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Như vậy, trong trường hợp di chúc miệng bị hủy bỏ, để thể hiên nguyện vọng của mình về việc phân chia tài sản sau khi chết, cá nhân phải lập di chúc bằng văn bản.

Trên đây là các điều kiện để di chúc miệng có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất!

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề đại diện như thế nào?

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề đại diện như thế nào?

Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì  lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.

  1. Căn cứ xác lập quyền đại diện

Theo quy định tại Điề 135 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật).

  1. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

Điều 136 BLDS năm 2015 quy định các trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân gồm:

– Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

– Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

– Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 136 BLDS 2015.

– Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

  1. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Điều 136 BLDS năm 2015 quy định các trường hợp đại diện theo pháp luật của pháp nhân gồm:

– Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

– Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

– Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của BLDS năm 2015

  1. Đại diện theo ủy quyền

Theo quy định tại Điều 138 BLDS năm 2015 thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Vậy thì hậu quả pháp lý của hành vi đại diện là gì?

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.

  1. Thời hạn đại diện

Điều 140 BLDS năm 2015 quy định thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật. Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn đại diện được xác định như sau:

– Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;

– Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện. Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Theo thỏa thuận;

– Thời hạn ủy quyền đã hết;

– Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

– Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

– Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật này;

– Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

 6. Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

– Người được đại diện là cá nhân chết;

– Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây: Quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Điều lệ của pháp nhân; Nội dung ủy quyền; Quy định khác của pháp luật.

Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.

Trên đây là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề đại diện theo Bộ luật dân sự năm 2015. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn chính xác, hiệu quả nhất!

Điều kiện để công ty tài chính được cấp phép thành lập

Điều kiện để công ty tài chính được cấp phép thành lập

Hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển hơn kéo theo sự thành lập của các công ty tài chính cũng tăng lên. Vậy thì các công ty tài chính phải đáp ứng những điều kiện gì để được cấp phép thành lập? Luật Thiên Nam sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc ngay bây giờ nhé!

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 2 Nghị định số 86/2019/NĐ-CP thì công ty tài chính phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định: 500 tỷ đồng

2. Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn.

Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định;

3. Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

4. Có Điều lệ phù hợp với quy định của Luật Luật Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

5. Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Trên đây là toàn bộ những điều kiện mà công ty tài chính cần đáp ứng để được cấp phép thành lập theo quy định của pháp luật. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được phương án tư vấn chính xác, hiệu quả nhất!