Bài học pháp lý từ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Câu chuyện pháp luật: Bài học pháp lý từ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Mẫu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mới nhất 2020 - Global Vietnam  Lawyers

Trên thực tế hiện nay, các giao dịch về quyền sử dụng đất xuất hiện ngày càng phổ biến trong đời sống của người dân. Do những nguyên nhân khác nhau mà các bên có thể giao kết các hợp đồng bị vô hiệu, dẫn đến các tranh chấp từ đó cũng phát sinh lên đáng kể.

Ngày 07/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thụ lý vụ án số 238/2017/TLPT-DS về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở giữa nguyên đơn là ông Bùi Xuân Trường và bị đơn là bà Nguyễn Thị Hồng để xét xử phúc thẩm.

Theo nội dung vụ án nêu trên thì hai bên đã tham gia giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng 05 thửa đất tại thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội và 01 thửa đất tại phường Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội.

1. Ngày 11/3/2008, ông Nguyễn Thành Hưng và bà Đặng Thị Kim Oanh có ký hợp đồng vay tiền để kinh doanh với bà Hồng, với nội dung là Hồng cho ông Hưng, bà Oanh vay số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản.

Ngày 05/5/2008, ông Hưng và bà Oanh ký hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng về QSDĐ là thửa đất số 61, tờ bản đồ 01, thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội. Hợp đồng này đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

2. Ngày 11/3/2008, ông Nguyễn Tiến Cảnh và bà Nguyễn Thị Hồng có ký hợp đồng vay tiền số 11/2008 với nội dung bà Hồng cho ông Cảnh vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản. Ngày 11/3/2008, ông Cảnh, bà Lụa ký kết hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng tại phòng công chứng số 1.

Ngày 05/5/2008, ông Cảnh, bà Lụa ký hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng về QSDĐ là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 01, thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội.

3. Ngày 26/12/2007, ông Nguyễn Quang Thơm, bà Nguyễn Thị Diệp, anh Nguyễn Quang Hưng, anh Nguyễn Quang Hữu và bà Nguyễn Thị Hồng đã ký hợp đồng vay tiền số 10/2007, với nội dung bà Hồng cho ông Thơm, bà Diệp, anh Hưng, anh Hữu vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên cùng ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Ngày 26/12/2007, ông Thơm, bà Diệp, anh Hưng, anh Hữu ký hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng về QSDĐ là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 03, thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội, hợp đồng này đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

4. Ngày 23/4/2008, ông Đào Văn Lạc, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thị Hồng ký hợp đồng vay tiền để kinh doanh số 14/2008/HĐVT, nội dung bà Hồng cho ông Lạc, bà Lan vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký hợp đồng thế chấp tài sản.

Ngày 23/4/2008, ông Lạc, bà Lan ký hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng về QSDĐ là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 07, thôn Giang Cao, Bát Tràng Gia Lâm, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

5. Ngày 26/12/2007, ông Trần Gia Huấn, bà Lê Thị Dung, chị Trần Thị Bích Hảo và bà Nguyễn Thị Hồng ký kết hợp đồng vay tiền để kinh doanh số 09/2007, nội dung bà Hồng cho ông Huấn, bà Dung, chị Hoàn, chị Hảo vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng. Cùng ngày, hai bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Ngày 23/4/2008, ông Huấn, bà Dung, chị Hoàn, chị Hảo ký hợp đồng ủy quyền cho bà Hồng về QSDĐ là thửa đất số 72(1), tờ bản đồ số 09, thôn Giang Cao, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

6. Ngày 11/4/2008, ông Nguyễn Trần Phúc ký kết hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng về quyền sử dụng thửa đất số 43(3), tờ bản đồ số 22, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội và đã được công chứng viên phòng công chứng số 5 chứng thực.

Theo nội dung của 6 hợp đồng ủy quyền nêu trên, bà Nguyễn Thị Hồng có quyền đại diện cho 05 hộ gia đình ở thôn Giang Cao, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội và 01 hộ gia đình ở phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 06 thửa đất nêu trên giữa bà Nguyễn Thị Hồng và ông Bùi Xuân Trường không có điều khoản nào thể hiện việc vay mượn hay thỏa thuận về việc vay, nợ tiền cũng không có tài liệu nào thể hiện bà Hồng có trao đổi nội dung nào khác với ông Trường ngoại trừ nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất đã được ghi trong hợp đồng. Theo đơn khởi kiện thì ông Trường yêu cầu bà Hồng cùng các hộ gia đình đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, nhà xưởng phải bàn giao tài sản và thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Nay do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không công chứng nên ông Trường đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng này vô hiệu và buộc bà Hồng cùng các hộ đã ủy quyền cho bà Hồng được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải bồi thường khoản tiền thiệt hại do làm cho hợp đồng này vô hiệu.

Ban pháp chế Trung tâm Văn hóa Doanh nhân cử Luật sư Vũ Minh Tiến nghiên cứu hồ sơ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Trường theo đơn mời của ông. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư nhận định rằng: Việc xác định hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được ký kết ngày 09/5/2008 chính là vấn đề pháp lý mấu chốt để giải quyết vụ việc trên.

Thông qua hợp đồng và giấy nhận tiền ngày 09/5/2008 giữa bà Hồng với ông Trường, có cơ sở khẳng định hai bên đã thực hiện giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối. Theo thỏa thuận sau 30 ngày, bà Hồng phải thực hiện việc công chứng, chứng thực nhưng bà Hồng đã không thực hiện. Mặc dù khi ký kết Hợp đồng, hai bên cam đoan: “Việc giao kết hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, trung thực không bị lừa dối hoặc ép buộc” đồng thời có việc giao nhận tiền và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền nhưng Hợp đồng này lại chưa được công chứng, chứng thực, chưa tiến hành các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cũng như bàn giao tài sản giữa các bên, Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng trong một tháng nhưng hai bên đã không thực hiện được. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng trên vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là có cơ sở.

Phán quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Hội đồng xét xử đã quyết định sửa bản án sơ thẩm số 11/2017/DS-ST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đồng thời đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày 26/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm. Tòa án đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Hồng lập ngày 09/5/2008 bị vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Có thể nhận thấy, phán quyết của Tòa án là đúng quy định của pháp luật đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trên đây chỉ là một trong số rất nhiều những vụ án tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực tế hiện nay. Sự kiện pháp lý này cũng là một bài học quý giá dành cho những người tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc giao kết hợp đồng đúng quy định của pháp luật, không bị vô hiệu là chìa khóa quan trọng để đảm bảo quyền lợi của các bên.

 

Câu chuyện pháp luật: Doanh nghiệp và những rủi ro về hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng

Câu chuyện pháp luật: Doanh nghiệp và những rủi ro về hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng

Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp đang nắm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định sự phát triển của một quốc gia. Bên cạnh những mặt tích cực trong việc thúc đẩy kinh tế, sự gia tăng một cách “ồ ạt” của hàng loạt các doanh nghiệp lớn nhỏ khiến cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thuế. Việc kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán hóa đơn nhằm thu lợi bất chính sẽ xây dựng nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống thất thoát nguồn ngân sách nhà nước đồng thời thúc đẩy mạng lưới các doanh nghiệp phát huy những tiềm năng vốn có của mình. Tuy nhiên, trên thực nhiêu doanh nghiệp do tính chất chủ quan, thiếu hiểu biết về những quy định pháp luật về thuế để rồi tự đưa mình vào những rắc rối hay vòng lao lý không đáng có.

Công ty cổ phần đầu tư phát triển ĐX là một công ty sản xuất và xuất nhập khẩu lò xử lý rác thải, do vậy nhu cầu về khấu thuế thu nhập doanh nghiệp vô cùng lớn. Ngày 10/01/2013 và ngày 15/01/2013, Công ty ĐX đã ký kết Hợp đồng kinh tế số 032/HĐKT/2013, 035/HĐKT/2013 với Công ty cổ phần khoáng sản VP. Nội dung của Hợp đồng, hai bên thống nhất, Công ty VP xây dựng cơ sở hạ tầng lắp đặt lò đốt rác thải cho các dự án xử lý rác thải tại bệnh viện và khu dân cư do Công ty ĐX đã đấu thầu dự án. Do thiếu đầu vào để khấu trừ thuế thu nhập doạnh nghiệp, công ty DDX đã thỏa thuận với công ty VP, trên mỗi một hợp đồng mà hai bên ký kết, giá trị thực tế mà hai bên ký kết sẽ được nâng lên 50% và phần nâng lên sẽ được công ty ĐX sẽ được thanh toán 2% giá trị tăng thêm ngoài thuế VAT 10% tại thời điểm.

Vụ việc diễn ra từ năm 2013 đến năm 2021 thì cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Bắc Giang vào cuộc điều tra Công ty VP vì có dấu hiệu vi phạm về thuế gây thiệt hại cho nhà nước. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra có đủ chứng cứ công ty VP đã xuất bán hóa đơn với những hợp đồng khống và hợp đồng nâng giá cho các doanh nghiệp trên địa bàn lên đến 150 tỷ đồng. Vụ việc đã được cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can giám đốc công ty VP và các đồng phạm với vai trò giúp sức. Do mức độ thiệt hại quá lớn, nên cơ quan điều tra đã mở rộng điều tra vụ án, xác minh điều tra với tất cả các doanh nghiệp và đơn vị đã có giao dịch, ký kết hợp đồng với Công ty VP, ngay sau đó cơ quan điều tra đã khởi tố nhiều giám đốc và cá nhân có liên quan, trong đó có công ty ĐX.

Ttrường hợp này, Công ty ĐX có dấu hiệu rủi ro về hóa đơn, chống gian lận hoàn thuế GTGT được chỉ ra tại Phụ lục kèm theo Công văn số 1873/TCT-TTKT ngày 01/6/2022 của Tổng Cục thuế, cụ thể:

  1. Doanh nghiệp thay đổi người đại diện trước pháp luật từ 2 lần trở lên trong vòng 12 tháng hoặc thay đổi người đại diện trước pháp luật đồng thời chuyển địa điểm kinh doanh;
  2. Doanh nghiệp có số lần thay đổi trạng thái hoạt động hoặc số lần thay đổi kinh doanh từ 2 lần trong năm.
  3. Doanh nghiệp mới thành lập có địa điểm kinh doanh không cố định (chuyển địa điểm kinh doanh nhiều lần trong 1-2 năm hoạt động).
  4. Doanh nghiệp chuyển địa điểm hoạt động kinh doanh sau khi đã có Thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
  5. Doanh nghiệp thành lập do các cá nhân có quan hệ gia đình cùng tham gia góp vốn như vợ, chồng, anh, chị em ruột….
  6. Doanh nghiệp thành lập mới do người đứng tên Giám đốc, đại diện theo pháp luật có Công ty do cơ quan thuế đã có thông báo bỏ địa chỉ kinh doanh (còn nợ thuế), tạm ngừng hoạt động kinh doanh có thời hạn.
  7. Doanh nghiệp thành lập nhiều năm không phát sinh doanh thu, sau đó bán lại, chuyển nhượng cho người khác.
  8. Doanh nghiệp thành lập không có giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản nhưng xuất hóa đơn tài nguyên, khoáng sản.
  9. Doanh nghiệp có hàng hóa bán ra, mua vào không phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng vùng.
  10. Doanh nghiệp chưa nộp đủ vốn điều lệ theo đăng ký;
  11. Các doanh nghiệp mua bán, sáp nhập với giá trị dưới 100 triệu đồng;
  12. Doanh nghiệp kinh doanh siêu thị (bán lẻ hàng hóa tiêu dùng, hàng điện máy); kinh doanh ăn uống, nhà hàng, khách sạn; kinh doanh vận tải; kinh doanh vật liệu xây dựng; kinh doanh xăng dầu; kinh doanh trong lĩnh vực khai thác đất, đá, cát, sỏi; kinh doanh khoáng sản (than, cao lanh, quặng sắt …); kinh doanh nông lâm sản (dăm gỗ, gỗ ván, gỗ thanh,…); có phát sinh ngành nghề cho thuê nhân công (phát sinh lớn).
  13. Doanh thu tăng đột biến, cụ thể: Kỳ kê khai trước doanh thu rất thấp, xấp xỉ bằng 0 nhưng kỳ sau đột biến về doanh thu hoặc có doanh thu kỳ sau đột biến tăng (từ 3 lần trở lên so doanh thu bình quân của các kỳ trước) nhưng số thuế giá trị gia tăng (GTGT) phát sinh phải nộp thấp (thuế GTGT phải nộp < 1 % doanh số phát sinh trong kỳ);
  14. Doanh thu lớn nhưng kho hàng không tương xứng hoặc không có kho hàng, không phát sinh chi phí thuê kho;
  15. Doanh thu kê khai hàng năm phát sinh từ trên 10 tỷ đồng nhưng số thuế phát sinh phải nộp thấp dưới 100 triệu đồng (1 %);
  16. Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn (từ 500 đến 2000 số hóa đơn). Số lượng hóa đơn xóa bỏ lớn, bình quân chiếm khoảng 20% số hóa đơn sử dụng.
  17. Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, Thông tư số 78/2021/TT-BTCcó số lượng hóa đơn điện tử giảm bất thường so với số lượng hóa đơn đã sử dụng theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP.
  18. Doanh nghiệp không có thông báo phát hành hóa đơn hoặc có thông báo phát hành nhưng không có báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn (hoặc chậm báo cáo).

Ngoài ra, các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, hướng tới một môi trường kinh doanh lành mạnh, hiệu quả. Việc tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với việc không buông lỏng quản lý sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp ý thức cao hơn về việc tuân thủ pháp luật, cẩn trọng hơn để phòng tránh những rủi ro trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh.

 

 

Doanh nghiệp và những rủi ro về hóa đơn và hoàn thuế GTGT

Doanh nghiệp và những rủi ro về hóa đơn và hoàn thuế GTGT

Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp đang nắm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, quyết định sự phồn thịnh của một quốc gia. Bên cạnh những mặt tích cực trong việc phát triển kinh tế, sự gia tăng một cách “ồ ạt” của hàng loạt các doanh nghiệp lớn nhỏ khiến cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thuế. Để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán hóa đơn nhằm thu lợi bất chính, Tổng cục Thuế đề nghị cơ quan Thuế các cấp tổ chức phổ biến, thực hiện, tổng kết, đánh giá và trao đổi kinh nghiệm về các dấu hiệu, hành vi vi phạm trong việc quản lý hóa đơn như phát hành, sử dụng, mua bán hóa đơn không hợp pháp. Qua bài viết dưới đây, Luật Thiên Nam sẽ cùng các bạn giải đáp những thắc mắc liên quan đến vấn đề này.

Tại Phụ lục kèm theo Công văn số 1873/TCT-TTKT ngày 01/6/2022 về tăng cường rà soát, kiểm tra phát hiện NNT có dấu hiệu rủi ro về hóa đơn, chống gian lận hoàn thuế GTGT đã quy định các dấu hiệu doanh nghiệp có rủi ro về hóa đơn,hoàn thuế GTGT gồm:

– Doanh nghiệp thay đổi người đại diện trước pháp luật từ 2 lần trở lên trong vòng 12 tháng hoặc thay đổi người đại diện trước pháp luật đồng thời chuyển địa điểm kinh doanh;

– Doanh nghiệp có số lần thay đổi trạng thái hoạt động hoặc số lần thay đổi kinh doanh từ 2 lần trong năm.

– Doanh nghiệp mới thành lập có địa điểm kinh doanh không cố định (chuyển địa điểm kinh doanh nhiều lần trong 1-2 năm hoạt động).

– Doanh nghiệp chuyển địa điểm hoạt động kinh doanh sau khi đã có Thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

– Doanh nghiệp thành lập do các cá nhân có quan hệ gia đình cùng tham gia góp vốn như Vợ, Chồng, anh, chị em ruột….

– Doanh nghiệp thành lập mới do người đứng tên giám đốc, đại diện theo pháp luật có Công ty do cơ quan thuế đã có thông báo bỏ địa chỉ kinh doanh (còn nợ thuế), tạm ngừng hoạt động kinh doanh có thời hạn.

– Doanh nghiệp thành lập nhiều năm không phát sinh doanh thu, sau đó bán lại, chuyển nhượng cho người khác.

– Doanh nghiệp thành lập không có giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản nhưng xuất hóa đơn tài nguyên, khoáng sản.

– Doanh nghiệp có hàng hóa bán ra, mua vào không phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng vùng.

– Doanh nghiệp chưa nộp đủ vốn điều lệ theo đăng ký;

– Các doanh nghiệp mua bán, sáp nhập với giá trị dưới 100 triệu đồng;

– Doanh nghiệp kinh doanh siêu thị (bán lẻ hàng hóa tiêu dùng, hàng điện máy); kinh doanh ăn uống, nhà hàng, khách sạn; kinh doanh vận tải; kinh doanh vật liệu xây dựng; kinh doanh xăng dầu; kinh doanh trong lĩnh vực khai thác đất, đá, cát, sỏi; kinh doanh khoáng sản (than, cao lanh, quặng sắt …); kinh doanh nông lâm sản (dăm gỗ, gỗ ván, gỗ thanh,…); có phát sinh ngành nghề cho thuê nhân công (phát sinh lớn).

– Doanh thu tăng đột biến, cụ thể: Kỳ kê khai trước doanh thu rất thấp, xấp xỉ bằng 0 nhưng kỳ sau đột biến về doanh thu hoặc có doanh thu kỳ sau đột biến tăng (từ 3 lần trở lên so doanh thu bình quân của các kỳ trước) nhưng số thuế giá trị gia tăng (GTGT) phát sinh phải nộp thấp (thuế GTGT phải nộp < 1 % doanh số phát sinh trong kỳ);

– Doanh thu lớn nhưng kho hàng không tương xứng hoặc không có kho hàng, không phát sinh chi phí thuê kho;

– Doanh thu kê khai hàng năm phát sinh từ trên 10 tỷ đồng nhưng số thuế phát sinh phải nộp thấp dưới 100 triệu đồng (1 %);

– Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn (từ 500 đến 2000 số hóa đơn). Số lượng hóa đơn xóa bỏ lớn, bình quân chiếm khoảng 20% số hóa đơn sử dụng.

– Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, Thông tư số 78/2021/TT-BTC có số lượng hóa đơn điện tử giảm bất thường so với số lượng hóa đơn đã sử dụng theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP.

– Doanh nghiệp không có thông báo phát hành hóa đơn hoặc có thông báo phát hành nhưng không có báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn (hoặc chậm báo cáo).

– Doanh nghiệp có giá trị hàng hóa bán ra, thuế GTGT đầu ra bằng hoặc chênh lệch rất nhỏ so với giá trị hàng hóa mua vào, thuế GTGT đầu vào.

– Doanh nghiệp có hàng hóa dịch vụ bán ra không phù hợp với hàng hóa dịch vụ mua vào;

– Doanh nghiệp có doanh thu và thuế GTGT đầu ra, đầu vào lớn nhưng không phát sinh số thuế phải nộp, có số thuế GTGT âm nhiều kỳ.

– Doanh nghiệp không có tài sản cố định hoặc giá trị tài sản cố định rất thấp;

– Doanh nghiệp có giao dịch đáng ngờ qua ngân hàng (tiền vào và rút ra ngay trong ngày);

– Doanh nghiệp sử dụng lao động không tương xứng với quy mô và ngành nghề hoạt động;

– Một cá nhân đứng tên (người đại diện theo pháp luật) thành lập, điều hành nhiều doanh nghiệp.

Có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, hướng tới một môi trường kinh doanh lành mạnh, hiệu quả. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần nắm vững các quy định về vấn đề này để phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh.