Trong phòng giam lạnh lẽo, tối om đầy cô độc, Hân (nhân vật đã đổi tên) co ro ngồi ôm gối nước mắt lưng tròng gặm nhấm nỗi ân hận muộn màng.
Phạm Thị Kiều Hân là nhân viên giao dịch của một ngân hàng lớn trên địa bàn Hà Nội. Còn anh Đ là một người đàn ông trưởng thành, chững chạc, là giám đốc của một doanh nghiệp. Cả hai đều có một cuộc sống viên mãn, một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, vì những tình cảm còn dang dở với nhau thời thanh xuân nên khi gặp lại, hai người đã lầm đường lạc bước trên con đường vi phạm pháp luật mà không hay.
Cô đã lập gia đình, có một người chồng tử tế và những đứa con ngoan ngoãn. Tuy nhiên, có lẽ vì mục đích hôn nhân không đạt được, thêm vào đó là môi trường làm việc luôn được tiếp xúc với những người đàn ông giàu có, trưởng thành nên đã khiến trái tim cô rung động. Cô đã ngoại tình với người đàn ông tên V, một người đàn ông chững chạc, giàu có, phong độ, quan tâm cô, nhưng anh lại là người đã có gia đình. Cô bất chấp tất cả để yêu anh, bên anh, mặc cho bao lời thị phi và những buổi hẹn hò vụng trộm. Tuy nhiên, tình yêu ấy rồi cũng nhanh chóng tan vỡ, như bao cuộc tình khác của anh.

Một thời gian sau, cô gặp anh Đ – là bạn học cũ cùng cấp 3 với cô. Hai người đều đã có gia đình riêng, nhưng vẫn quyết định đến với nhau trong âm thầm, lặng lẽ. Thời điểm này, gia đình cô đang gặp khó khăn, con nợ đến đòi tiền thường xuyên, thêm vào đó 2 đứa con của cô bị bệnh nặng, phải cần số tiền lớn để chữa trị. Quá túng thiếu và bế tắc, cô đã nghĩ ngay đến những hình ảnh khỏa thân của anh V mà cô chụp được lúc 02 người còn bên nhau. Cô đã rủ anh Đ cùng lập mưu dùng những hình ảnh này để đe dọa anh V phải chi ra số tiền 500 triệu đồng. Cô dùng sim rác, gửi những hình ảnh khỏa thân của anh V qua cho anh V và uy hiếp, bắt anh V phải chi ra số tiền trên, nếu không cô sẽ tung ảnh này lên mạng xã hội, lên công ty của anh V và vợ anh,….Sau nhiều lần nói chuyện với cả vợ anh V nhưng không được, vợ chồng anh V nại ra các lý do để trì hoãn việc đưa tiền, nên cô đã đi in các hình ảnh đó và ném vào xe tại cơ quan của vợ anh V. Bị uy hiếp nhiều lần và quá bất mãn trước hành động trên, vợ chồng anh V đã đến Cơ quan công an để tố cáo hành vi này của cô. Cô và anh Đ đã bị bắt khi đang ở tại một căn nhà trọ cùng với chiếc điện thoại có lắp sim đã đe dọa vợ chồng anh V và các hình ảnh anh V khỏa thân.
Sau nhiều lần điều tra, Cơ quan công an đã bắt tạm giữ và khởi tố cô và anh Đ cùng với nhiều bằng chứng, vật chứng tìm được tại hiện trường. Ngày 29/10/2020, cô và anh Đ bị viện kiểm sát truy tố về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Sáng hôm sau, Phiên tòa sơ thẩm đã được diễn ra trước sự chứng kiến của những người thân gia đình cô. Cô đau khổ đến tột cùng và vô cùng hối hận về hành vi của mình. Đứng trước HĐXX, cô trở lên nhỏ bé, thú nhận toàn bộ mọi tội lỗi. Luật sư nêu ra những tình tiết giảm nhẹ mà cô được hưởng như: gia đình có công với cách mạng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ….
Kết thúc phiên Tòa, HĐXX tuyên phạt cô (Bị cáo P.T.K.N) với mức án 36 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo Đ với mức án 30 tháng tù giam. Đối với cô và anh Đ có lẽ đây là bài học đắt giá nhất trong cuộc đời hai người. Nếu không phạm phải sai lầm trên, có lẽ cuộc sống của cô là niềm mong mỏi của biết bao người phụ nữ khác.
Category Archives: Hỏi đáp pháp luật hình sự
Đánh bạc bị công an bắt bị xử phạt như thế nào
Câu hỏi: Đánh bạc, bị công an bắt quả tang và thu ở chiếu bạc 5.200.000 đồng có bị đi tù không? Đã từng bị xử phạt hành chính vì tội đánh nhau trước đó 1 năm.

Trả lời: Với câu hỏi của bạn, Luật Thiên Nam tư vấn giải đáp như sau:
Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định về tội đánh bạc như sau:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Tổng số tiền mà thu giữ là 5.200.000 đồng, so với quy định trên đã vượt quá mức tối thiểu là 5.000.000 đồng; như vậy hành vi đánh bạc trên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội đánh bạc.
Căn cứ theo Điều 52 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
“Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1.Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Phạm tội có tính chất côn đồ;
đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;
e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai,người đủ 70 tuổi trở lên;
k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,tàn ác để phạm tội;
n) Dùng thủ đoạn,phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
2.Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”
Thì tội phạm đánh bạc trên có phạm tội đánh nhau trước đó 1 năm và bị xử phạt hành chính, tính đến đây là đã phạm tội 2 lần. Căn cứ Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 thì tội đánh nhau là tình tiết tăng nặng. Như vậy người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm kèm theo đó bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề của bạn. Nếu có bất kì thắc mắc nào, bạn có thể liên hệ với chúng tôi theo Hotline phía dưới để được tư vấn rõ hơn.
Tạm đình chỉ vụ án
Câu hỏi: Vụ án của tôi bị tạm đình chỉ nhưng suốt một thời gian không thấy giải quyết . Tôi cứ đợi mãi nhưng không thấy bên Tòa án gửi giấy nói về việc giải quyể vụ án của tôi. Thời hạn tạm đình chỉ là bao lâu?
Trả lời: Đối với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Thiên Nam giải đáp như sau:

- Đối với vụ án dân sự:
– Căn cứ Điều 216 BLTTDS 2015 quy định về việc “ Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự” : “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.”
– Mà theo Khoản 2 Điều 45 của Pháp lệnh tố tụng giải quyết vụ án dân sự 1989 quy định về “ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án” : “ 1..
- Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn”
=> Như vậy, thời hạn đình chỉ giải quyết vụ án thì phải thuộc vào nội dung của từng vụ việc. Nếu muốn tiếp tục được giải quyết, cần phải chứng minh lý do tạm định chỉ không còn.
- Đối với vụ án hình sự
Căn cứ Khoản 1 Điều 281 quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“ 1.Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này;
b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.”
Căn cứ theo Điều 283 BLTTHS 2015 quy định về “ Phục hồi vụ án”:
“1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án ra quyết định phục hồi vụ án.
Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi.
2.Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3.Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
4.Khi phục hồi vụ án, Tòa án có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.”
– Trong khoản 4 của Điều 283 “ .. Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.” mà thời hạn chuẩn bị xét xử theo khoản 1 Điều 277 BLTTHS 2015 : “1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng từ ngày thụ lý vụ án..”
=> Như vậy, thời hạn giải quyết vụ việc, hủy bỏ tạm đình chỉ của vụ án sẽ không quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015.
Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam đối với vấn đề của bạn. Nếu có thắc mắc cần giải đáp, bạn có thể gọi đến Hotline của công ty để được các luật sư hỗ trợ trực tiếp
Trộm cắp tài sản trị giá bao nhiêu thì bị phạt tù
Câu hỏi: Bạn tôi trộm cắp tài sản trị giá 4.2 triệu của nhà người khác khi không có ai ở nhà, và chưa được sự đồng ý của chủ nhà, vậy có bị xử lý không, xứ lý thế nào ? theo quy định nào cấp nào có thẩm quyền giải quyết?

Trả lời: Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Thiên Nam đối với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Thiên Nam xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau: từ những thông tin bạn chia sẻ, chúng tôi nhận thấy bạn đang gặp vướng mắc trong vấn đề pháp lý liên quan đến trộm cắp tài sản.
Một cá nhân khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, độ tuổi là một trong các yếu tố quan trọng trong việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 12 BLHS 2015 quy định:
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Vậy nên, một cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tuỳ thuộc vào loại tội phạm mà họ thực hiện. Trong trường hợp này bạn không nêu rõ độ tuổi của người có hành vi vi phạm, nên chúng tôi mặc nhiên cho rằng người này đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Trộm cắp tài sản là một loại tội phạm có cấu thành vật chất, tức là phải yêu cầu có hậu quả mất cắp xảy ra thì mới xử lý theo tội này được Điều 173 BLHS 2015 quy định:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
Xét trường hợp bạn nêu, người này thực hiện hành vi một cách lén lút để lấy đi tài sản trị giá 4,2 triệu đồng nên đã đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản và có thể bị phạt tù đến 03 năm theo Điều 173 BLHS 2015. Khi có quyết định khởi tố vụ án, kết luận của cơ quan điều tra, và theo bản cáo trạng của viện kiểm sát thì toá án sẽ xét xử và đưa ra bản án thích hợp.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Thiên Nam về trộm cắp tài sản. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới Hotline phía dưới của Công ty Luật Thiên Nam để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Đăng thông tin xâm phạm danh dự người khác lên mạng xã hội
Cho e hỏi, chị của e đang vay tiền của 1 người bạn, do ko đủ khả năng trả, người đó đăng tin lên face nhắn cho bạn bè và người thân của e. Làm mất uy tín và danh dự của e và gia đình.e có nên lên công an thành phố trình báo ko ạ?
Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Thiên Nam, đối với câu hỏi của bạn Luật Thiên Nam xin được tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 34, Bộ luật dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự và uy tín như sau:
Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1.Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2.Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3.Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4.Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5.Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.
Theo đó, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Bạn của chị bạn không có quyền đăng tin lên facebook làm mất danh dự và uy tín của chị bạn và cả gia đình bạn. Với hành vi đăng thông tin thất thiệt lên mạng xã hội, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định:
Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin
3.Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin;
Theo đó, ngân hàng có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu ở mức độ nghiêm trọng hơn, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự như sau:
Điều 155. Tội làm nhục người khác
1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Do đó, bạn hoàn toàn có thể trình báo công an hoặc mời luật sư tham gia bảo vệ để những kẻ đăng thông tin bôi nhọ danh dự người khác sẽ bị xử lý thích đáng.
Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề đăng thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ luật sư theo Hotline phía dưới
Vay nợ không có giấy tờ có đòi được không?
Câu hỏi: Mong luật sư giúp tôi, tôi có cho họ hàng vay số tiền lớn, nhưng vì tin tưởng nên không viết giấy cho vay, chỉ thỏa thuận với nhau qua tin nhắn, chuyển khoản. Vậy có đòi được không?

Trả lời: Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
Bạn không có giấy vay nợ nhưng có đầy đủ tin nhắn và hình ảnh chứng minh về khoản tiền vay này thì bạn vẫn có thể căn cứ vào đó để yêu cầu người vay tiền của bạn phải thực hiện theo đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận bởi theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay không bắt buộc phải lập thành văn bản có ông chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015:
“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Khi đã hình thành quan hệ tài sản trên thực tế thì người vay tiền của bạn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn cho vay trong thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu người vay đến thời hạn trả nợ mà cố tình không trả thì bạn đã có những căn cứ chứng minh về việc người vay tiền của mình có khả năng, có tài sản những lại cố tình không trả nên bạn có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an cấp quận, huyện kèm theo những căn cứ chứng minh về hành vi này của người đã vay tiền của mình. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…”
Nếu trong trường hợp người vay tiền của bạn dùng thủ đoạn gian dối để nhằm làm cho bạn tin tưởng và giao tài sản cho sau đó chiếm đoạt số tài sản đó thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
…”
Như vậy, bạn có thể cung cấp những chứng cứ chứng minh về hành vi của người vay tiền của mình cho cơ quan công an, cơ quan công an sẽ căn cứ dựa vào những thông tin bạn cung cấp để tiến hành điều tra, xác minh xem có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của BLHS, trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội hình sự thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Trên đây là tư vấn của Luật sư cho vấn đề vay tiền không có giấy tờ có đòi được tiền của bạn, Khách hàng có thắc mắc cần giải đáp có thể liên hệ với luật sư để được tư vấn tốt nhất.
Lãi suất cho vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi
Hình thức cho vay tiền lấy lãi hiện nay đang diễn ra rất phổ biến. Tuy nhiên, cho vay như thế nào để không bị vướng vào vòng lao lý của cho vay nặng lãi là vô cùng quan trọng. Theo quy định pháp luật Dân sự về lãi suất thì:
Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:
”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”
Như vậy lãi suất cho vay các bên có thể thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/ năm. Tức là các bên chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 1,6665%/tháng. Trường hợp các bên thỏa thuận mức cho vay vượt quá mức lãi suất mà pháp luật cho phép thì khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật chỉ bảo vệ phần lãi suất cho vay trong phạm vi pháp luật cho phép (tức bạn chỉ phải trả lãi suất là 1,666%/tháng).

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 có quy định như sau:
”1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy trường hợp của bạn là người cho vay có thể có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật về tội cho vay nặng lãi, mức lãi suất hơn so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Trường hợp này, bạn có thể làm đơn trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết và đảm bảo quyền lợi.
Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề lãi suất vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ với Luật sư theo Hotline bên dưới
Lừa đảo bán đất bị xử lý như thế nào?
Hiện nay, việc mua bán nhà đất bằng giấy viết tay mà không có công chứng/chứng thực diễn ra vẫn còn phổ biến. Vậy giấy mua bán đất bằng giấy viết tay có giá trị hiệu lực pháp lý không? Có xảy ra những vấn đề rủi ro gì sau này cho bên mua?

1) Hành vi lừa đảo bán đất nhằm chiếm đoạt tài sản.
Nếu chứng minh được hành vi một người dùng thủ đoạn gian dối để người nào đó tin và mua đất thì hành vi đó có thể có dấu hiệu của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”.
Xét về mặt khách quan của tội phạm thì người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối như đưa ra những thông tin giả, không đúng sự thật nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật và tin vào những thông tin gian dối đó mà đưa tài sản cho họ. Và mục đích người phạm tội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản (phải có mục đích chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo).
2. Hướng giải quyết để đòi lại đất.
Tùy theo từng vụ việc mà ta sẽ đưa ra hướng giải quyết khác nhau, nhìn chung đối với những vụ việc liên quan đến lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần chứng minh những vấn đề sau:
Bước 1: Cần thu thập các chứng cứ về giao dịch đã thực hiện giữa hai bên
Bước 2: Chứng minh được họ dùng thủ đoạn gian dối (bằng các chứng cứ chứng minh họ không phải chủ mảnh đất như những gì họ nói, việc cam kết là sai sự thật,…)
Bước 3: Gặp luật sư để luật sư vào cuộc, làm việc với bên lừa đảo và các cơ quan tiến hành tố tụng
Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đất đai). Khách hàng có nhu cầu có thể liên hệ với chúng tôi để gặp luật sư tư vấn tốt nhất phương hướng giải quyết.