Quy định của pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Quy định của pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Với sự phát triển của xã hội và mạng lưới công nghệ thông tin hiện nay, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước đã phức tạp, nay còn trở nên tinh vi và xảo quyệt hơn. Tội phạm này không chỉ vi phạm các quy chuẩn đạo đức, pháp luật của Việt Nam, mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến trật tự và gây xôn xao dư luận.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được cho là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, là tội phạm có cấu thành vật chất. Tội danh này được quy định cụ thể tại Điều 174, Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

Các dấu hiệu như: chủ thể, khách thể, mặt khách quan, chủ quan của tội phạm là những điểm mấu chốt trong quá trình xác định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ thể:

Căn cứ vào Điều 12 của BLHS 2015 thì chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là người đủ 16 tuổi trở lên và không ở trong tình trạng được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 21 BLHS 2015; người đủ từ 14 nhưng chưa đến 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với mọi trường hợp phạm tội.

Về mặt khách thể:

Khác với các tội xâm phạm sở hữu khác như tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, bắt cóc… Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu chứ không xâm phạm đến quan hệ nhân thân.

Về mặt chủ quan:

Dấu hiệu lỗi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện qua mặt lý trí và ý trí. Người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đã nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm, thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và xã hội; xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản. Mặc dù biết, nhưng người phạm tội vẫn mong muốn hậu quả xảy ra, cụ thể là mong muốn chiếm đoạt được tài sản của chủ tài sản.

Người phạm tội danh trên có thể có nhiều hơn một động cơ (do tham lam, do điều kiện hoàn cảnh, do ganh đua ghen ghét…) Động cơ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phả là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành nên tội danh cho nên không có ý nghĩa trong quá trình định tội mà chỉ có vai trò trong việc xem xét mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi khi quyết định hình phạt.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, người phạm tội thực hiện hành vi có mục tiêu định sẵn về việc dịch chuyển trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình. Mục đích của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện qua hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả của hành vi chiếm đoạt gây ra. Lưu ý rằng, nếu một người thực hiện hành vi lừa đối để nhận được tài sản của người khác với mục đích sử dụng mà không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với người đó.

Về mặt khách quan:

Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện dưới hai hành vi thực tế là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản:

+   Hành vi lừa dối là hành vi cố ý tung ra thông tin không đúng sự thật nhằm lấy lòng tin của người khác, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội. Trên thực tế, hành vi gian dối trong tội danh này được hợp thành bởi 2 yếu tố:

Đưa ra thông tin gian dối. Hành vi này thể hiện là hành động có chủ đích của người phạm tội, được thực hiện bằng lời nói, hành động hoặc những biểu hiện khác nhau nhằm cung cấp thông tin sai lệch về sự việc.

Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà giao tài sản cho người phạm tội. Nếu chủ sở hữu khi giao tài sản không biết rằng mình bị lừa, hoặc phát hiện ra ngay sau khi tài sản thì người phạm tội vẫn bị xử lý với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối.

Trong trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối nhưng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tài sản mà người phạm tội phải dùng thủ đoạn khác hoặc vũ lực hòng chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành tội phạm khác tương ứng với hành vi của người phạm tội.

Cần lưu ý rằng, thủ đoạn gian dối không phải chỉ xuất hiện ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn được quy định ở một số tội phạm, điều khác biệt ở chỗ là hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, còn hành vi gian dối hướng tới mục đích khác mà không hòng chiếm đoạt tài sản dù có tư lợi thì cũng không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trông cấu thành tội phạm, có phản ánh dấu hiệu hậu quả gây nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện như sau:

– Hành vi gian đối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt.

– Hành vi gian dối là cơ sở chủ đạo để quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội. Thiệt hại về tài sản đã xảy ra đúng là sự thực hiện hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản.

Hình phạt đối với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS tùy trường hợp.

Việc phân tích và hiểu rõ các dấu hiệu pháp lý, dấu hiệu định khung hình phạt và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giúp các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng quy định của pháp luật được chính xác, thông nhất; đồng thời đảm bảo hình phạt vừa mang tính cải tạo, giáo dục người phạm tội, vừa có tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, bảo vệ trật tự an ninh xã hội.

Bài học đắt giá nhất

Trong phòng giam lạnh lẽo, tối om đầy cô độc, Hân (nhân vật đã đổi tên) co ro ngồi ôm gối nước mắt lưng tròng gặm nhấm nỗi ân hận muộn màng.
Phạm Thị Kiều Hân là nhân viên giao dịch của một ngân hàng lớn trên địa bàn Hà Nội. Còn anh Đ là một người đàn ông trưởng thành, chững chạc, là giám đốc của một doanh nghiệp. Cả hai đều có một cuộc sống viên mãn, một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, vì những tình cảm còn dang dở với nhau thời thanh xuân nên khi gặp lại, hai người đã lầm đường lạc bước trên con đường vi phạm pháp luật mà không hay.
Cô đã lập gia đình, có một người chồng tử tế và những đứa con ngoan ngoãn. Tuy nhiên, có lẽ vì mục đích hôn nhân không đạt được, thêm vào đó là môi trường làm việc luôn được tiếp xúc với những người đàn ông giàu có, trưởng thành nên đã khiến trái tim cô rung động. Cô đã ngoại tình với người đàn ông tên V, một người đàn ông chững chạc, giàu có, phong độ, quan tâm cô, nhưng anh lại là người đã có gia đình. Cô bất chấp tất cả để yêu anh, bên anh, mặc cho bao lời thị phi và những buổi hẹn hò vụng trộm. Tuy nhiên, tình yêu ấy rồi cũng nhanh chóng tan vỡ, như bao cuộc tình khác của anh.

Một thời gian sau, cô gặp anh Đ – là bạn học cũ cùng cấp 3 với cô. Hai người đều đã có gia đình riêng, nhưng vẫn quyết định đến với nhau trong âm thầm, lặng lẽ. Thời điểm này, gia đình cô đang gặp khó khăn, con nợ đến đòi tiền thường xuyên, thêm vào đó 2 đứa con của cô bị bệnh nặng, phải cần số tiền lớn để chữa trị. Quá túng thiếu và bế tắc, cô đã nghĩ ngay đến những hình ảnh khỏa thân của anh V mà cô chụp được lúc 02 người còn bên nhau. Cô đã rủ anh Đ cùng lập mưu dùng những hình ảnh này để đe dọa anh V phải chi ra số tiền 500 triệu đồng. Cô dùng sim rác, gửi những hình ảnh khỏa thân của anh V qua cho anh V và uy hiếp, bắt anh V phải chi ra số tiền trên, nếu không cô sẽ tung ảnh này lên mạng xã hội, lên công ty của anh V và vợ anh,….Sau nhiều lần nói chuyện với cả vợ anh V nhưng không được, vợ chồng anh V nại ra các lý do để trì hoãn việc đưa tiền, nên cô đã đi in các hình ảnh đó và ném vào xe tại cơ quan của vợ anh V. Bị uy hiếp nhiều lần và quá bất mãn trước hành động trên, vợ chồng anh V đã đến Cơ quan công an để tố cáo hành vi này của cô. Cô và anh Đ đã bị bắt khi đang ở tại một căn nhà trọ cùng với chiếc điện thoại có lắp sim đã đe dọa vợ chồng anh V và các hình ảnh anh V khỏa thân.
Sau nhiều lần điều tra, Cơ quan công an đã bắt tạm giữ và khởi tố cô và anh Đ cùng với nhiều bằng chứng, vật chứng tìm được tại hiện trường. Ngày 29/10/2020, cô và anh Đ bị viện kiểm sát truy tố về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Sáng hôm sau, Phiên tòa sơ thẩm đã được diễn ra trước sự chứng kiến của những người thân gia đình cô. Cô đau khổ đến tột cùng và vô cùng hối hận về hành vi của mình. Đứng trước HĐXX, cô trở lên nhỏ bé, thú nhận toàn bộ mọi tội lỗi. Luật sư nêu ra những tình tiết giảm nhẹ mà cô được hưởng như: gia đình có công với cách mạng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ….
Kết thúc phiên Tòa, HĐXX tuyên phạt cô (Bị cáo P.T.K.N) với mức án 36 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo Đ với mức án 30 tháng tù giam. Đối với cô và anh Đ có lẽ đây là bài học đắt giá nhất trong cuộc đời hai người. Nếu không phạm phải sai lầm trên, có lẽ cuộc sống của cô là niềm mong mỏi của biết bao người phụ nữ khác.

VẾT THƯƠNG KHÓ LÀNH

Khi màn đêm buông xuống, với nhiều người đây là khoảng thời gian thư thái, bình yên là lúc nghỉ ngơi sau một ngày lao động. Nhưng với Nguyễn Thanh Huyền (đã được đổi tên) là những đêm dài đằng đẵng đầy ác mộng với ký ức kinh hoàng không thể quên.

Đầu năm 2018 trong đám cưới người thân Huyền tình cờ quen biết với Phạm Văn Sang, sinh năm 1993, quê Hải Hậu, Nam Định. Qua câu chuyên xã giao Huyền và Sang mới biết cả hai đang thuê trọ trên cùng một phường ở Hà Nôi. Khi đó Huyền đang là sinh viên năm cuối của một trường Đại Học danh tiếng, Sang hiện đang làm nhân viên lắp đặt camera cho một của hàng trên cùng địa bàn. Với vẻ ngoài điển trai, chịu thương chịu khó của Sang làm trái tim Huyền rung động lúc nào không hay.

Ý thức được gia cảnh nghèo khó, bố, mẹ già ốm yếu ở quê nên Sang luôn dành hết thời gian cho công việc với mong muốn có thu nhập cao để gửi tiền cho bố, mẹ và tích cóp một phần để thực hiện ước mơ có một của hàng kinh doanh lắp đặt camera. Do tính nết thật thà, chịu thương, chịu khó nên Sang không những được lòng Ông chủ mà còn được khách hàng tin tưởng gọi làm mỗi khi có công việc liên quan. Từ đó thu nhập của Sang cũng dần cao hơn, Sang đã gửi được tiền về giúp đỡ bố, mẹ hàng tháng, ngoài ra còn tích cóp được khoản tiền kha khá dành cho ước mơ mở của hàng.

Qua một vài lần hẹn hò cả hai đã yêu nhau lúc nào không hay. Kể từ khi yêu Huyền, Sang đã không tiếc tiền bỏ ra mua những món quà đáng giá để tặng cô, số tiền mà sau nhiều năm tích cóp để mở một cửa hàng camera do mình làm chủ đã dần cạn kiệt qua những buổi hẹn hò và những món quà lấy lòng người yêu.

Thế nhưng, mối tình đằm thắm tưởng chừng như trong mộng không duy trì được lâu, thì cả hai bắt đầu cảm thấy gượng gạo, không còn sự thắm thiết thủa ban đầu. Chí hướng, quan điểm sống không đồng nhất dẫn đến Huyền có ý định chia tay, Sang không đồng ý. Đỉnh điểm của sự việc vào buổi chiều tối ngày 22-6-2019 cả hai cùng các bạn trong khu trọ của Huyền rủ nhau đi ăn ốc, quá trình ăn ốc mọi người đã cùng uống một chai rượu đế, qua câu chuyện cả hai lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, Huyền tiếp tục đòi chia tay trước mặt các bạn, Sang cho rằng cô coi thường mình vì mình chỉ là nhân viên quèn, nên đã tức tối bỏ về.

Vào khoảng 22 giờ ngày 22-6-2019, Sang điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của Huyền,  vừa mở cửa Huyền đã bị Sang nắm tay  kéo ra đường nói chuyện, Huyền không đồng ý nên vào phòng khóa cửa lại. Sang đi ra ngoài đường nhặt 01 vỏ chai nhựa và tháo ống dẫn xăng từ bình xăng của xe môtô để lấy xăng. Sau đó Sang cầm chai xăng đổ xuống dưới khe cửa phòng trọ của Huyền và dùng bật lửa châm lửa đốt, nghe tiếng kêu thất thanh của Huyền, Sang sợ hãi bỏ chạy. Hàng xóm chạy sang đạp cửa vào cứu thì xe máy của Huyền đã bén lửa, ngọn lửa đã tạp vào vai và má trái của Huyền phồng rộp, bỏng rát đầy đau đớn. Huyền được đưa đi cấp cứu kịp thời mặc dù không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng vết sẹo dài từ má đến vai không còn cơ hội chữa lành.

Kết luận giám định số 276/2019/GĐPY ngày 16/8/2019, Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Thanh Huyền là 32%. Sang đã bị bắt và bị khởi tố về tội giết người khi đang lẩn trốn tại Bình Dương. Quá trình điều tra, Sang vô cùng ăn năn, hối hận và thừa nhận toàn bộ hành vi do mình gây ra. Tại phiên Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Huyền đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Sang và không yêu cầu bồi thường tổn thất tình thần cũng như chi phí điều trị do bị cáo gây ra. Tấm lòng vị tha của Huyền làm cho bị cáo càng thêm xấu hổ và ân hận.

Kết thúc phiên Tòa, Sang bị Hội đồng xét xử tuyên bản án 13 năm 6 tháng tù giam, khi Sang bị áp giải ra xe tù ngoái đầu nhìn người mẹ già ngã quỵ tại phòng xử của tòa án, tấm lưng còng và cánh tay gầy guộc của người cha không đỡ nổi người mẹ già đang gục ngã làm cho Sang cảm giác đau đớn cùng cực. Mọi ước mơ đẹp đẽ của Sang đã không còn, ước mơ cửa hàng camera do mình làm chủ giờ chỉ còn là trong tiềm thức, ước mơ những tháng ngày lo toan cho cha mẹ già yếu đã thật xa vời, ước mơ vợ hiền và những đứa con ngoan bên Huyền đã chấm dứt.

Nhưng còn nỗi đau của Huyền đang thẫm đẫm hàng đêm liệu rằng Sang có biết.

 

Đánh bạc bị công an bắt bị xử phạt như thế nào

Câu hỏi: Đánh bạc, bị công an bắt quả tang và thu ở chiếu bạc 5.200.000 đồng có bị đi tù không? Đã từng bị xử phạt hành chính vì tội đánh nhau trước đó 1 năm.

Trả lời: Với câu hỏi của bạn, Luật Thiên Nam tư vấn giải đáp như sau:

Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Tổng số tiền mà thu giữ là 5.200.000 đồng, so với quy định trên đã vượt quá mức tối thiểu là 5.000.000 đồng; như vậy hành vi đánh bạc trên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm tội đánh bạc.

Căn cứ theo Điều 52 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1.Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai,người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn,phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

2.Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”

Thì tội phạm đánh bạc trên có phạm tội đánh nhau trước đó 1 năm và bị xử phạt hành chính, tính đến đây là đã phạm tội 2 lần. Căn cứ Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 thì tội đánh nhau là tình tiết tăng nặng. Như vậy người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm kèm theo đó bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề của bạn. Nếu có bất kì thắc mắc nào, bạn có thể liên hệ với chúng tôi theo Hotline phía dưới để được tư vấn rõ hơn.

Tạm đình chỉ vụ án

Câu hỏi: Vụ án của tôi bị tạm đình chỉ nhưng suốt một thời gian không thấy giải quyết . Tôi cứ đợi mãi nhưng không thấy bên Tòa án gửi giấy nói về việc giải quyể vụ án của tôi. Thời hạn tạm đình chỉ là bao lâu?

Trả lời: Đối với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Thiên Nam giải đáp như sau:

  • Đối với vụ án dân sự:

– Căn cứ Điều 216 BLTTDS 2015 quy định về việc “ Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự” : “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.”

– Mà theo Khoản 2 Điều 45 của Pháp lệnh tố tụng giải quyết vụ án dân sự 1989 quy định về “ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án” : “ 1..

  1. Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn”

=> Như vậy, thời hạn đình chỉ giải quyết vụ án thì phải thuộc vào nội dung của từng vụ việc. Nếu muốn tiếp tục được giải quyết, cần phải chứng minh lý do tạm định chỉ không còn.

  • Đối với vụ án hình sự

Căn cứ Khoản 1 Điều 281 quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

“ 1.Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này;

b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;

c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.”

Căn cứ theo Điều 283 BLTTHS 2015 quy định về “ Phục hồi vụ án”:

“1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án ra quyết định phục hồi vụ án.

Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi.

2.Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

3.Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

4.Khi phục hồi vụ án, Tòa án có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.

Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.”

– Trong khoản 4 của Điều 283 “ .. Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.”  mà thời hạn chuẩn bị xét xử theo khoản 1 Điều 277 BLTTHS 2015 : “1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng từ ngày thụ lý vụ án..”

=> Như vậy, thời hạn giải quyết vụ việc, hủy bỏ tạm đình chỉ của vụ án sẽ không quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015. 

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam đối với vấn đề của bạn. Nếu có thắc mắc cần giải đáp, bạn có thể gọi đến Hotline của công ty để được các luật sư hỗ trợ trực tiếp

Trộm cắp tài sản trị giá bao nhiêu thì bị phạt tù

Câu hỏi: Bạn tôi trộm cắp tài sản trị giá 4.2 triệu của nhà người khác khi không có ai ở nhà, và chưa được sự đồng ý của chủ nhà, vậy có bị xử lý không, xứ lý thế nào ? theo quy định nào cấp nào có thẩm quyền giải quyết?

Trả lời:  Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Thiên Nam đối với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Thiên Nam xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau: từ những thông tin bạn chia sẻ, chúng tôi nhận thấy bạn đang gặp vướng mắc trong vấn đề pháp lý liên quan đến trộm cắp tài sản.

Một cá nhân khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, độ tuổi là một trong các yếu tố quan trọng trong việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 12 BLHS 2015 quy định:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Vậy nên, một cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tuỳ thuộc vào loại tội phạm mà họ thực hiện. Trong trường hợp này bạn không nêu rõ độ tuổi của người có hành vi vi phạm, nên chúng tôi mặc nhiên cho rằng người này đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Trộm cắp tài sản là một loại tội phạm có cấu thành vật chất, tức là phải yêu cầu có hậu quả mất cắp xảy ra thì mới xử lý theo tội này được Điều 173 BLHS 2015 quy định:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Xét trường hợp bạn nêu, người này thực hiện hành vi một cách lén lút để lấy đi tài sản trị giá 4,2 triệu đồng nên đã đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản và có thể bị phạt tù đến 03 năm theo Điều 173 BLHS 2015. Khi có quyết định khởi tố vụ án, kết luận của cơ quan điều tra, và theo bản cáo trạng của viện kiểm sát thì toá án sẽ xét xử và đưa ra bản án thích hợp.

Trên đây là tư vấn của công ty Luật Thiên Nam về trộm cắp tài sản. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới Hotline phía dưới của Công ty Luật Thiên Nam để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.

 

Đăng thông tin xâm phạm danh dự người khác lên mạng xã hội

Cho e hỏi, chị của e đang vay tiền của 1 người bạn, do ko đủ khả năng trả, người đó đăng tin lên face nhắn cho bạn bè và người thân của e. Làm mất uy tín và danh dự của e và gia đình.e có nên lên công an thành phố trình báo ko ạ?

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Thiên Nam, đối với câu hỏi của bạn Luật Thiên Nam xin được tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 34, Bộ luật dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự và uy tín như sau:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1.Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2.Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3.Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4.Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5.Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Theo đó, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Bạn của chị bạn không có quyền đăng tin lên facebook làm mất danh dự và uy tín của chị bạn và cả gia đình bạn. Với hành vi đăng thông tin thất thiệt lên mạng xã hội, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định:

Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3.Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin;

Theo đó, ngân hàng có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu ở mức độ nghiêm trọng hơn, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do đó, bạn hoàn toàn có thể trình báo công an hoặc mời luật sư tham gia bảo vệ để những kẻ đăng thông tin bôi nhọ danh dự người khác sẽ bị xử lý thích đáng.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề đăng thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ luật sư theo Hotline phía dưới

 

Vay nợ không có giấy tờ có đòi được không?

Câu hỏi: Mong luật sư giúp tôi, tôi có cho họ hàng vay số tiền lớn, nhưng vì tin tưởng nên không viết giấy cho vay, chỉ thỏa thuận với nhau qua tin nhắn, chuyển khoản. Vậy có đòi được không?

Trả lời: Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau: 

Bạn không có giấy vay nợ nhưng có đầy đủ tin nhắn và hình ảnh chứng minh về khoản tiền vay này thì bạn vẫn có thể căn cứ vào đó để yêu cầu người vay tiền của bạn phải thực hiện theo đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận bởi theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vay không bắt buộc phải lập thành văn bản có ông chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực theo quy định tại Điều 463 BLDS 2015:

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Khi đã hình thành quan hệ tài sản trên thực tế thì người vay tiền của bạn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn cho vay trong thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu người vay đến thời hạn trả nợ mà cố tình không trả thì  bạn đã có những căn cứ chứng minh về việc người vay tiền của mình có khả năng, có tài sản những lại cố tình không trả nên bạn có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an cấp quận, huyện kèm theo những căn cứ chứng minh về hành vi này của người đã vay tiền của mình. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

Nếu trong trường hợp người vay tiền của bạn dùng thủ đoạn gian dối để nhằm làm cho bạn tin tưởng và giao tài sản cho sau đó chiếm đoạt số tài sản đó thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

…”

Như vậy, bạn có thể cung cấp những chứng cứ chứng minh về hành vi của người vay tiền của mình cho cơ quan công an, cơ quan công an sẽ căn cứ dựa vào những thông tin bạn cung cấp để tiến hành điều tra, xác minh xem có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của BLHS, trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội hình sự thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Trên đây là tư vấn của Luật sư cho vấn đề vay tiền không có giấy tờ có đòi được tiền của bạn, Khách hàng có thắc mắc cần giải đáp có thể liên hệ với luật sư để được tư vấn tốt nhất.

Lãi suất cho vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi

Hình thức cho vay tiền lấy lãi hiện nay đang diễn ra rất phổ biến. Tuy nhiên, cho vay như thế nào để không bị vướng vào vòng lao lý của cho vay nặng lãi là vô cùng quan trọng. Theo quy định pháp luật Dân sự về lãi suất thì:

Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy lãi suất cho vay các bên có thể thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/ năm. Tức là các bên chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 1,6665%/tháng. Trường hợp các bên thỏa thuận mức cho vay vượt quá mức lãi suất mà pháp luật cho phép thì khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật chỉ bảo vệ phần lãi suất cho vay trong phạm vi pháp luật cho phép (tức bạn chỉ phải trả lãi suất là 1,666%/tháng).

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 có quy định như sau:

”1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy trường hợp của bạn là người cho vay có thể có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật về tội cho vay nặng lãi, mức lãi suất  hơn so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Trường hợp này, bạn có thể làm đơn trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết và đảm bảo quyền lợi.

Trên đây là tư vấn của Luật Thiên Nam về vấn đề lãi suất vay bao nhiêu thì cấu thành tội cho vay nặng lãi. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn có thể liên hệ với Luật sư theo Hotline bên dưới

Thế nào là bị hại trong vụ án hình sự?

Bị hại trong vụ án hình sự là như nào? Quyền và nghĩa vụ của bị hại ra sao để có thể tận dụng và được bảo vệ tốt nhất. Bài viết dưới đây của Luật Thiên Nam sẽ tư vấn chi tiết điều đó:

1.Thế nào là bị hại trong vụ án hình sự

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

“Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”

2.Quyền và nghĩa vụ của của bị hại hoặc người đại diện của họ

Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

“ 2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật

đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;

i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

3.Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

4.Bị hại có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

5.Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.”

Bình luận quy định về bị hại và quyền, nghĩa vụ của bị hại

Thứ nhất: Theo Khoản 1 Điều luật, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

Thiệt hại về thể chất là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; thiệt hại về tinh thần là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm; thiệt hại về tài sản là tài sản bị mất, bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Thiệt hại nói trên phải do chính hành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra cho người bị hại. Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần, về tài sản do tội phạm gây ra chỉ được coi là người bị hại trong tố tụng hình sự khi được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án công nhận

Thế nào là quyền và nghĩa vụ của bị hại?

Thứ nhất: Theo Khoản 2 Điều luật đang được bình luận, bị hại có các quyền sau:

–  Quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều nà

–  Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu

–  Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá

–  Quyền đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật

–  Quyền được thông báo về kết quả điều tra; giải quyết vụ án;

–  Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

–  Quyền đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

–  Quyền tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác gia phiên tòa; tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản tham gia phiên tòa;

–  Quyền tự bảo vệ, nhờ người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

–  Quyền tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

–  Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa

–  Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

–  Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

–  Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho người bị hại thực hiện các quyền của họ.

Thứ hai: Bị hại có những nghĩa vụ nhất định. Theo khoản 4 điều luật đang bình luận, người bị hại có các nghĩa vụ sau:

–  Nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

–  Nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của người bị hại có những quyền được nói ở trên. Nếu người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tinh thần thì người đại diện hợp pháp của họ có thể thay thế người bị hại để thực hiện các quyền của người bị hại.

Trên đây là tư vấn của Công ty luật Thiên Nam về vấn đề thế nào là bị hại trong vụ án hình sự. Khách hàng có nhu cầu cần tư vấn giải đáp có thể liên hệ chúng tôi để được tư vấn giải đáp